vanban.org

Bản án 922/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhậnyêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tú Q đối với ông Nguyễn Hoài P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú Q được ly hôn với ông Nguyễn Hoài P. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tú Q và ông Nguyễn Hoài P có 01 con chung tên Nguyễn Hoài Tú N, sinh ngày 10/5/2012. Giao cháu Nguyễn Hoài Tú N cho bà Nguyễn Thị Tú Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu N tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Tú Q ly hôn với ông Nguyễn Hoài Ph."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhậnyêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tú Q đối với ông Nguyễn Hoài P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 922/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15 -7- 2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

2. Ông Huỳnh Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn,Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 392/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 130/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tú Q, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: 2/3C đường P, tổ 113, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài P, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: 7/4B khu phố 6, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2022, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú Q trình bày:

Sau một thời gian tìm hiểu, bà Nguyễn Thị Tú Q và ông Nguyễn Hoài P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015.

Sau khi cưới, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc.Tuy nhiên, khoảng năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, ông Nguyễn Hoài P sử dụng ma túy, không lo cho vợ con. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay.Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Tú Q yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoài P.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông Nguyễn Hoài P và bà Nguyễn Thị Tú Q có 01 con chung tên Nguyễn Hoài Tú N, sinh ngày 10/5/2012. Bà Nguyễn Thị Tú Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Hoài P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ trở về chung sống với nhau nhưng chỉ có nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú Q có mặt theo triệu tập của Tòa án, ông Nguyễn Hoài P vắng mặt không lý do và bà Q có đơn yêu cầu không tiếp tục tổ chức hòa giải nên vụ kiện không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng dân sự theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Tú Q và ông Nguyễn Hoài P là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn cư trú tại thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã niêm yết và tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Hoài P vắng mặt không lý do và bà Nguyễn Thị Tú Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú Q và ông Nguyễn Hoài P tự nguyện tiến đến hôn nhân. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 105 Quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/11/2015, đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Tú Q và ông Nguyễn Hoài P là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Trong quá trình tố tụng, bị đơn không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp theo quy định của pháp luật.

[5] Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Tú Q xác định đời sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không hợp nhau do ông Nguyễn Hoài P sử dụng ma túy và không có trách nhiệm với vợ con;vợ chồng đã ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mặc ai nấy sống và tự lo cho bản thân.

[6] Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

[7] Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, vợ chồng bà Nguyễn Thị Tú Q và ông Nguyễn Hoài P đã trải qua thời gian dài không chung sống với nhau, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, quan tâm đến nhau và mỗi người đều có cuộc sống riêng của mình dẫn đến đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Thị Tú Q và ông Nguyễn Hoài P có 01 con chung tên Nguyễn Hoài Tú N, sinh ngày 10/5/2012 đang được bà Nguyễn Thị Tú Q chăm sóc, nuôi dưỡng. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Tú Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Hoài P cấp dưỡng nuôi con; tại bản tự khai của cháu Nguyễn Hoài Tú N có nguyện vọng tiếp tục được bà Nguyễn Thị Tú Q chăm sóc, nuôi dưỡng. Từ đó, cần giao cháu Nguyễn Hoài Tú N cho bà Nguyễn Thị Tú Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Hoài Tú N và quy định pháp luật; việc cấp dưỡng nuôi con chung chưa đặt ra xem xét.

[9] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn của Kiểm sát viên là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nênđược Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 19, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhậnyêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tú Q đối với ông Nguyễn Hoài P.

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú Q được ly hôn với ông Nguyễn Hoài P.

3. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Tú Q và ông Nguyễn Hoài P có 01 con chung tên Nguyễn Hoài Tú N, sinh ngày 10/5/2012. Giao cháu Nguyễn Hoài Tú N cho bà Nguyễn Thị Tú Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu N trưởng thành đủ 18 tuổi.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Hoài P bà Nguyễn Thị Tú Q cho đến khi bà Nguyễn Thị Tú Q có đơn yêu cầu.

Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con; không bên nào được quyền ngăn cản việc thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Tú Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 05/4/2022, bà Nguyễn Thị Tú Q đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2021/0039142 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn được đối trừ.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ