vanban.org

Bản án 92 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
̀
̀
HUYỆN GIÔNG RIÊNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 92/2019/HNGĐ-ST
Ngày 14/10/2019
V/v “Tranh chấp ly hôn,
về nuôi con chung ”

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phá n - Chủ tọa phiên Tò a: Bà Nguyễn Thi ̣ Chuyên Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Bửu Khánh

Ông Huỳnh Văn Thái

- Thư ký phiên Tòa : Bà Huỳnh Thị Phượng là thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Giồng Riềng

tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa

Ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số : 356/2019/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 8 năm 2019 vụ tranh chấp “Ly hôn, về nuôi con chung” theo quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử sơ thẩm số : 104/2019/QĐXXST- HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2019, giữa :

1.Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

2.Bị đơn: Anh Đặng Văn Ng, sinh năm: 1979; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ Á N:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trẩn Thị Tuyết N trình bày: Chị và anh Ng trước khi lấy nhau có tìm hiểu và được hai bên gia đinh tổ chứ c lễ cướ i vào ngày 25/2/1998, anh chị có đăng ký kết hôn tại

̀ Ủy ban nhân dân xã B, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Sau khi cướ i cuô ̣c sống vợ chồng ha ̣nh phú c khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do anh Ng ham chơi cờ bạc, có quan hệ ngoại tình với người khác đã nhiều lần chị khuyên răn nhưng anh Ng không nghe, bỏ mặc vợ con, không quan tâm chăm sóc, đi nhậu về là đánh chị. Từ đó, dẫn đến tình cảm ngày càng rạn nứt, chị thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Chị thấy rằng cuô ̣c sống vợ chồng không còn ha ̣nh phúc, hôn nhân không thể tiếp tu ̣c duy tri nên chị N yêu cầu Tòa

̀ án giải quyết cho chị được ly hôn vớ i anh Ng.

Về con chung : Trong quá trinh chung sống vợ chồng có 02 đứa con chung

̀

tên Đặng Thị Thúy Á, sinh ngày 27/7/1999 và Đặng Hoàng P, sinh ngày 04/11/2013; con tên Á đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị yêu cầu được tiếp tục con tên P, không yêu cầu anh Ng phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Tại bản tự khai đề ngày 04/9/2019 và tại phiên tòa anh Ng xác định lời trình bày của chị N về hôn nhân, con chung, nợ chung, tài sản chung là đúng, anh thừa nhận những khuyết điểm với vợ con nhưng anh vẫn còn thương vợ con không đồng ý ly hôn, anh hứa sẽ khắc phục và sửa chữa bản thân mong chị N cho anh cơ hội, anh không đồng ý ly hôn. Về con chung anh cũng xin được nuôi con, không đồng ý giao con cho vợ nuôi . Về tài sản chung , Về nợ chung : Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

[1]. Về tố tu ̣ng: Chị Trần Thị Tuyết N yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” giữa chị và anh Ng. Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thi vu ̣ án thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyê ̣n nên

̀ Tòa án nhân dân huyê ̣n Giồng Riềng thu ̣ lý giải quyết vu ̣ án theo thủ tu ̣c sơ thẩm là đúng trình tự, thủ tục tố tụng.

[2]. Về nội dung:

{2.1} Về hôn nhân: Chị N và anh Ng trước khi lấy nhau có tìm hiểu trước và được hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới vào ngày 25/2/1998, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình chung sống anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn theo như chị N trình bày thì anh Ng có quan hệ bất chính với người khác, không quan tâm chăm sóc vợ con, chơi cờ bạc, đã nhiều lần chị cho anh cơ hội để sửa chữa nhưng anh Ng vẫn không từ bỏ. Trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa hôm nay anh Ng cũng thừa nhận khuyết điểm với chị N, anh không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con. Xét thấy hôn nhân của anh chị phải được xây dựng trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, bền vững lâu dài, vợ chồng cùng quan tâm chăm sóc lẫn nhau và nuôi dạy con cái, sống chung thủy một vợ một chồng, theo như lời trình bày của chị N thì anh Ng có quan hệ ngoại tình với người khác; anh Ng cũng thừa nhận có việc này, gia đình cũng đã hòa giải động viên nhiều lần nhưng không có kết quả. Tại phiên tòa hôm nay chị N cương quyết xin được ly hôn với anh Ng. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị N và anh Ng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng khoản 01 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử chấp nhận cho chị Trần Thị Tuyết N được ly hôn với anh Đặng Văn Ng.

{2.2} Về con chung: Chị N và anh Ng đều xác định có 02 con chung tên Đặng Thị Thúy Á, sinh ngày 27/7/1999 và Đặng Hoàng P, sinh ngày 04/11/2013; con tên Á đã trưởng thành nên Tòa án không giải quyết. Còn cháu P chị N xin được nuôi con, không yêu cầu anh Ng phải cấp dưỡng nuôi con; anh Ng cũng có nguyện vọng được nuôi con sau khi ly hôn: Hội đồng xét xử thấy rằng cháu P là

- 2 - con chung của anh chị, chị N và anh Ng đều có nguyện vọng được nuôi con, yêu cầu trên của anh chị là chính đáng. Tuy nhiên, cũng phải xem xét cân nhắc khi anh chị ly hôn thì giao cháu N cho ai chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo điều kiện cho việc đi lại, ăn học của cháu. Theo như anh Ng xác nhận anh có tham gia chơi cờ bạc, không thường xuyên ở nhà do đó xét thấy không đảm bảo cho việc chăm sóc nuôi dạy con. Chị N xác định làm ăn buôn bán tạp hóa nhỏ, có đủ điều kiện kinh tế đảm bảo cho việc nuôi con. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đinh; Xử giao cháu Đặng Hoàng P sinh ngày 04/11/2013 cho chị N tiếp tu ̣c nuôi ̀ dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi (trừ trườ ng hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t ). Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Ng có quyền đến thăm nom , chăm sóc , giáo dục con chung , không ai được quyền ngăn cản.

{2.3} Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

{2.4} Về nợ chung: Không có.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điểu 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu nô ̣p quản lý và sử du ̣ng áp phi lê ̣ phi Tòa án:

́

́

Án phí ly hôn sơ thẩm chị Trần Thị Tuyết N phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền ta ̣m ứng án phi mà chị N đa nô ̣̃ p theo biên lai thu tiền số

́

6466 ngày 12/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyê ̣n Giồng Riềng . Chị N đa nô ̣̃ p đủ.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ và o khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy đi ̣nh về mứ c thu , miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng á p phi lê ̣ phi Tò a á n:

́

́

1. Về hôn nhân : Xử chấp nhận cho chị Trần Thị Tuyết N được ly hôn với anh Đặng Văn Ng.

2. Về con chung: Xử giao cháu Đặng Hoàng P sinh ngày 04/11/013 cho chị N tiếp tu ̣c nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi (trừ trườ ng hợp thay đổi quyền nuôi con th eo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t ). Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con

Anh Ng có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cấm.

3. Về á n phí Án phí ly hôn sơ th ẩm chị Trần Thị Tuyết N phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền ta ̣m ứng án phi mà chị N đa nô ̣̃ p

́ theo biên lai thu tiền số 6466 ngày 12/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyê ̣n Giồng Riềng. Chị N đa nô ̣̃ p đủ.

- 3 -

Chị N và anh Ng có quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n luâ ̣t đi ̣nh là 15 ngày kể ngày tuyên án (14/10/2019).

Cỡ chữ