vanban.org

Bản án 92

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 11/10/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 ộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của ộ luật dân sự; ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Vũ, đại diện bị hại.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "HOÀNG ANH V. CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 ộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của ộ luật dân sự; ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Vũ, đại diện bị hại.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T A N NH N D N NG H A

H

H NGH A V T NAM

T NH L M Đ NG

Đ c l p – T do – H nh ph c

n án s : 92/2019/HS-PT Ng y: 11-10-2019

NHÂN DANH

N

NG H A

H

H NGH A V T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Kim Đồng

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn ỉnh

Ông Nguyễn Duy Hoài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đ o, Kiểm sát viên.

Ngày 11-10-2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 77/2019/TLPT-HS ngày 08-7-2019 đ i với bị cáo Hoàng Anh V do có kháng cáo của đại diện bị hại; đ i với b n án hình sự sơ thẩm s 32/2019/HS-ST ngày 28-5-2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo bị kháng cáo:

Họ và tên: Hoàng Anh V; sinh năm 1991 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi ĐKHKTT v cư trú: Thôn VĐ, xã CAN, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; qu c tịch: Việt Nam; con ông Ho ng Động C, sinh năm 1967; con bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1967; hiện cư trú: Thôn VĐ, xã CAN, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22-11-2018; hiện đang bị giam giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị hại: Anh Lê Thanh N, sinh năm 1996; nơi cư trú: Ấp BT, xã BT, huyện TB, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.

Người đại diện của bị hại: Anh Lê Văn X, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp BT, xã BT, huyện TB, tỉnh Đồng Tháp “Văn bản ủy quyền ngày 16-4-2019”. Có mặt.

Trong vụ án này còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Châu Thanh T, anh Châu Thanh S, anh Trần Thanh V, chị Nguyễn Thị T không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy tố, xét xử được tóm tắt như sau:

Vào kho ng 16 giờ 00 ngày 25-6-2018, tại nhà anh Trần Thanh V (tổ dân phố X, thị trần ĐV) có các anh Châu Thanh T, anh Châu Thanh S và anh Lê Thanh N cùng trú tại xã BT, huyện TB, tỉnh Đồng Tháp đến chơi. Anh Thanh V tổ chức ăn u ng và mời thêm bị cáo Hoàng Anh V làm công nhân Công ty vi sinh gần nhà anh Thanh V.

Quá trình u ng bia giữa bị cáo Anh V với anh T có x y ra mâu thuẫn, bị cáo Anh V có chửi tục đ i với anh T, nên anh S cầm gạt tàn thu c lá định đánh bị cáo Anh V thì được anh Thanh V can ngăn, Anh T cầm ly thủy tinh lao vào đánh bị cáo Anh V nhưng lại trúng v o đầu anh Thanh V, anh S cầm bát sứ đánh v o đầu bị cáo Anh V làm ch y máu, sau đó bị cáo Anh V bỏ chạy về xưởng của Công ty, anh Thanh V bị ch y máu đầu nên anh Năng đã điều khiển xe mô tô chở anh Thanh V, anh S, anh T để đi bệnh viện.

Bị cáo Anh V chạy về nhà gọi điện thoại cho anh và em trai là anh Hoàng Ngọc T và anh Ho ng Vũ Đ kể về sự việc bị đánh, sau đó bị cáo Anh V lấy 01 cái thuổng dài 1,5m (cán bằng gỗ tròn đường kính kho ng 05cm, lưỡi bằng sắt dài kho ng 20cm hình bán nguyệt) để ở đ ng cát sát với xưởng, bị cáo Anh V đã cầm cây thuổng đi ra đầu đường ngay ngõ vào nhà anh Thanh V đứng chờ để đánh anh T và anh S, khi thấy có ánh đèn xe mô tô đi tới, bị cáo Anh V nghĩ l ba anh em anh T nên đã chạy ra, tay cầm cây thuổng đánh một cái theo chiều ngang từ ph i qua trái trúng v o đầu anh N làm xe và mọi người ngã xu ng, lúc này cán thuổng bị gãy, bị cáo Anh V tiếp tục cầm cán thuổng đánh liên tiếp vào người anh Sang, anh Thanh V và anh Tòng, phát hiện anh Thanh V cũng đang nằm dưới đất nên bị cáo Anh V dừng lại không đánh nữa mà bỏ chạy nhưng anh Tòng đã ôm v vật nhau với bị cáo Anh V, chị Nguyễn Thị T chạy đến can ngăn thì bị cáo Anh V bỏ cán thuổng tại hiện trường và bỏ chạy. Mọi người đưa anh N, anh Thanh V, anh T, anh S đi cấp cứu tại bệnh viện.

Hậu qu của hành vi bị hại anh N bị vết thương đỉnh trái dài 10cm lộ sọ đỉnh trái vỡ nát, màng cứng rách, anh S bị vết thương đầu rách da và thâm tím mắt ph i, anh T bị bầm tím bắp tay.

Tại b n kết luận s 257 ngày 05-10-2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng về giám định pháp y về thương tích kết luận bị hại anh N bị tổn thương cơ thể 59% với thương tích “bị liệt nửa người bên phải di chứng chấn thương sọ não mức độ nhẹ, vết mổ sọ não hở dài 23cm, khuyết sọ kích thước 11.5x6cm”

Vật chứng thu giữ: 01 thuổng bằng sắt cán gỗ, d i 50cm, lưỡi thuổng kích thước 27x10cm, 01 cán gỗ tròn, dài 01cm, đường kính 03cm; 01 gạt tàn thu c; 01 ghế khung sắt; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển s 47E1-31538; 01 áo khoác v i m u xanh đen; 01 chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Anh V; 01 ly thủy tinh; 01 bát tô bằng nhựa và các m nh vỡ thủy tinh.

Về bồi thường thiệt hại: Về phía bị hại yêu cầu bồi thường tạm tính 97.000.000đ, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại với tổng s tiền 80.500.000đ, được đai diện bị hại anh Lê Văn X xác nhận đã nhận bồi thường s tiền này.

B n án s 32/2019/HS-ST ngày 28-5-2019 Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên b bị cáo Ho ng Anh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c kho n 3 Điều 134; điểm b, s kho n 1 Điều 51; Điều 38 ộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi chung Bộ luật Hình sự năm 2015).

Xử phạt ị cáo Ho ng Anh V 05 năm tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 22-11-2018.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 ộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của ộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Hoàng Anh V có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Lê Thanh N s tiền l 72.760.000đ.

Ngoài ra, b n án còn xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo, lãi thi hành án và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định pháp luật.

Ngày 10-6-2019 đại diện bị hại anh N kháng cáo buộc bị cáo tiếp tục bồi thường 499.300.000đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo không kháng cáo, đồng thời khai nhận h nh vi như b n án sơ thẩm đã quy kết, không thắc mắc khiếu nại gì. Về kháng cáo của bị hại, bị cáo đồng ý bồi thường 152.000.000đ.

Bị hại anh N, đại diện bị hại anh X, yêu cầu bị cáo bồi thường 152.000.000đ, đề nghị Tòa án xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa giữa bị cáo, bị hại thỏa thuận bồi thường là tự nguyện và phù hợp pháp luật; căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355, điểm b kho n 2 Điều 357 của Bộ luật t tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị hại, sửa b n án sơ thẩm; ghi nhận sự thỏa thuận, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại s tiền 152.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, giữa bị cáo V, đại diện bị hại thỏa thuận mức bồi thường. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị hại, sửa b n án sơ thẩm; ghi nhận sự thỏa thuận, buộc bị cáo V có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh N s tiền 152.000.000đ.

Đ i với kho n thiệt hại chi phí phát sinh ph i ghép sọ sau thời điểm này, nếu giữa bị cáo và bị hại không thỏa thuận được thì thực hiện khởi kiện và được gi i quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục chung.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do bị hại kháng cáo, nên bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355; điểm b kho n 2 Điều 357 của Bộ luật t tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị hại, sửa b n án sơ thẩm; Xử:

1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 ộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của ộ luật dân sự; ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Vũ, đại diện bị hại. Buộc bị cáo Hoàng Anh V có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Lê Thanh N s tiền 152.000.000đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Hoàng Anh V không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ