- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A P tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A P(tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 92/2023/HSST Ngày: 25/09/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Xuân HồngHH,
2. Ông Nguyễn Hữu Đà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Thào A Sùng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 09 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 09 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 09 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A P(tên gọi khác: không), sinh năm: 1976 tại tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không biết chữ; con ông Giàng A K (đã chết) và bà Mùa Thị L, sinh năm 1964; vợ: Mùa Thị K, sinh năm 1981; bị cáo có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 05/8/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 26 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", bị cáo đã chấp hành án xong và đã được xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/4/2023 đến ngày 23/4/2023 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 12/4/2023 Giàng A P một mình cầm theo số tiền 800.000 đồng của bản thân đi bộ lên đầu bản H tìm mua ma túy thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua trao đổi P đã mua được của người này 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa Heroine với giá 800.000 đồng mang theo bên người khi nào lên cơn nghiện thì lấy ra sử dụng. Quá trình cất giấu P đã nhiều lần lấy ra sử dụng. Hồi 06 giờ 30 phút ngày 14/4/2023 Giàng A P đang ở nhà một mình thì thấy tổ công tác Công an xã K, huyện Đ đến, P đã ném gói Heroine đang cầm trong lòng bàn tay phải xuống đất cạnh chỗ P đang ngồi thì bị tổ công tác Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của Phà 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột trắng nghi là Heroine.
Tại Biên bản mở niêm phong vật chứng cân khối lượng và lấy mẫu giám định và Kết luận giám định số: 650/KL-KTHS, ngày 21/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng chất bột trắng trong gói nilon màu trắng thu giữ của Giàng A P là 5,6 gam và mẫu trích 0,22 gam gửi giám định là ma túy loại Heroine.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa điều tra được người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo do không có thông tin cụ thể.
Tại Cáo trạng số 63/CT-VKSĐBĐ ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo Giàng A P về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Giàng A P về cả tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng A P từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 5,38 gam Heroine còn lại sau giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Giàng A P bị truy tố thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo Giàng A P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể bị cáo khai nhận vì nghiện chất ma túy, nên vào ngày 12/4/2023 bị cáo tìm mua được 01 gói Heroine với giá 800.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ nhân thân, lai lịch) về để sử dụng, bị cáo đã sử dụng nhiều lần đến ngày 14/4/2023 thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon chứa 5,6 gam Heroine. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 14/4/2023, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định bản thân bị cáo Giàng A P là người có năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý mua tàng trữ 5,6 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi đó đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo Giàng A P là hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại xấu cho sức khỏe và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm minh.
. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bản thân bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" nhưng đã được xóa án tích, không có tiền án, tiền sự; sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn; là cha của 06 con nhưng bị cáo không làm gương cho các con mà đua đòi bè bạn dẫn đến nghiện chất ma túy và phạm tội như ngày hôm nay, bị cáo phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình đã thực hiện.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, gia đình thuộc hộ nghèo, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát đã đề xuất.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Tịch thu, tiêu hủy 5,38 gam Heroine còn lại sau giám định theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo do không rõ nhân thân, lai lịch nên không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên Đông tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý trong vụ án này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Giàng A P(tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Giàng A P 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 14/4/2023).
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 5,38 gam Heroine còn lại sau giám định.
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 08/9/2023 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/9/2023).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Cơ quan CSĐT C.A huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - CC.THADS huyện Đ; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Nga |