- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N phạm tội “Môi giới mại dâm” - môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh N;
- Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2026/HS-PT Ngày: 20 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Tâm
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Ông Nguyễn Công Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Trí - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 76/2026/TLPT-HS ngày 18 tháng 3 năm 2026 đối với Nguyễn Thanh N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2026/HS-ST ngày 20-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4
- Lâm Đồng.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh N (tên gọi khác: H), sinh ngày 09-02-2000 tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số B, tổ I, ấp C, xã H, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện tại: số D L, Phường A B, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973 và bà Võ Thị T, sinh năm 1974; chưa có chồng; có 02 con; tiền án, tiền sự: không; tại ngoại. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Viết Hoàng S, Luật sư Văn phòng Luật sư - Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: số C C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5-2025, Hoàng Yến N1 kết bạn với Nguyễn Thanh N nhân viên của quán K; địa chỉ: số F N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phường B B). Qua tiếp xúc, N1 biết N và một số nhân viên nữ của quán Karaoke B ngoài làm nhân viên phục vụ thì các nhân viên còn tham gia bán dâm cho khách theo yêu cầu. Do đó, khi N1 gặp khách có nhu cầu mua dâm thì N1 gọi cho N để N bán dâm cho khách hoặc N giới thiệu bạn của N cho N1 để N1 hưởng tiền hoa hồng từ việc môi giới. Đối với mỗi lần môi giới cho khách đi “bùm” (tức là quan hệ tình dục một lần) thì N1 được hưởng 300.000 đồng tiền hoa hồng/khách. Trong tháng 6, N1 và N thực hiện môi giới bán dâm nhiều lần và cho nhiều người. Cụ thể:
Lần 1: vào chiều tối ngày 03-6-2025, Hoàng Yến N1 gọi điện cho Nguyễn Thanh N nhờ N tìm giúp N1 một người đi qua đêm với khách tại khách sạn S1; địa chỉ: số E đường B, phường A B, Lâm Đồng. Lúc này, N đang ở cạnh Nguyễn Thị Ngọc A nên N hỏi Ngọc A có đi không thì Ngọc A đồng ý. Sau đó, N nói Ngọc A đến khách sạn S1 và làm việc giá cả trực tiếp với khách. Ngọc A thỏa thuận với khách một lần qua đêm 6.000.000 đồng và khách đưa tiền mặt cho Ngọc A. Đến khoảng 12 giờ trưa ngày 04-6-2025, Ngọc A đi về và đưa cho N 1.300.000 đồng. Sau khi nhận được tiền từ Ngọc A thì N chuyển khoản hết cho N1 số tiền 1.300.000 đồng.
Lần 2: khoảng 16 giờ 05 phút ngày 13-6-2025, N1 nhận được cuộc gọi từ người có zalo tên “D” nói cần hai bạn gái đi bùm (tức đi bán dâm) nhờ N1 tìm giúp và N1 đã gọi zalo cho N hỏi N “Có ai đi B (bán dâm) không? Người ta cần hai người. Lúc này, N đang ngồi cạnh Nguyễn Thị Ngọc A nên hỏi Ngọc A có đi khách không thì Ngọc A đồng ý. Tiếp đó, N gọi qua zalo cho Nguyễn Thị Huỳnh N2 hỏi Như có đi khách không thì N2 đồng ý. Khoảng 30 phút sau, N gửi cho N1 02 hình ảnh của hai bạn nữ qua zalo cho N1 và N1 đồng ý. N1 báo giá với hai người khách là 3.000.000đ/một người/một lần bán dâm, thì khách đồng ý. Đến 16 giờ 44 phút có tài khoản tên Nguyễn Văn L và 16 giờ 45 phút có tài khoản tên Nguyen Khanh T1 chuyển vào tài khoản của N1 mỗi tài khoản 3.000.000 đồng. Tổng N1 nhận được từ hai người khách 6.000.000 đồng và N1 hưởng 600.000 đồng tiền môi giới. Sau đó, N1 lấy địa chỉ khách sạn và gửi cho N để N gửi cho Nguyễn Thị Ngọc A và Nguyễn Thị Huỳnh N2. Sau khi nhận được thông tin thì N2 và Ngọc A bắt xe taxi đi đến khách sạn H1; địa chỉ: số E T, phường B, tỉnh Lâm Đồng. Như đi vào phòng 17 để thực hiện hành vi mua bán dâm với người khách tên Nguyễn Văn C1, Ngọc A vào phòng 18 để thực hiện hành vi mua bán dâm với người khách tên Nguyễn Văn L. Khi Ngọc A và N2 đang thực hiện hành vi mua bán dâm với khách thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiến hành kiểm tra và lập biên bản vụ việc.
Cáo trạng số 44/CT-VKSKV4 ngày 25-11-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Môi giới mại dâm” quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự.
Bản án số 07/2026/HS-ST ngày 20-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng quyết định: Tuyên bố Nguyễn Thanh N phạm tội “Môi giới mại dâm”. Áp dụng các điểm d, đ khoản 2 khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh N (tên gọi khác: H) 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù.
Phạt bổ sung số tiền 15.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với Hoàng Yến N1, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 30-01-2026, bị cáo Nguyễn Thanh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Nguyễn Thanh N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh N, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt và xử phạt Nguyễn Thanh N 03 năm tù.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm đối với hành vi liên quan đến ngày 04-6-2025, bị cáo Nguyễn Thanh N là người trực tiếp đi khách, không phải chị Nguyễn Thị Ngọc A như cáo trạng và bản án sơ thẩm quy kết bị cáo N. Đồng thời, trong vụ án có bỏ lọt tội phạm và hồ sơ vụ án có dấu hiệu làm sai lệch một số tình tiết nội dung vụ án thể hiện từ bút lục số 194 - 207 liên quan đến các tin nhắn giữa bị cáo N, chị Nguyễn Thị Ngọc A và bị cáo Hoàng Yến N1. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra bổ sung lại theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét lời khai thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ để Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: ngày 13-6-2025, Hoàng Yến N1 và Nguyễn Thanh N đã thực hiện hành vi làm trung gian môi giới cho Nguyễn Thị Ngọc A và Nguyễn Thị Huỳnh N2 đi bán dâm cho 02 người khách Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Văn L tại phòng số 17, 18 của khách sạn H1; địa chỉ: số E T, phường B, tỉnh Lâm Đồng. Ngoài ra, ngày 03-6-2025, Hoàng Yến N1 và Nguyễn Thanh N đã thực hiện hành vi làm trung gian môi giới cho Nguyễn Thị Ngọc A bán dâm cho 01 người khách tại khách sạn S1 trên đường B, phường A B, tỉnh Lâm Đồng. Qua đó, N1 đã thu lợi bất chính 1.900.000 đồng; N không lấy tiền môi giới. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo N thừa nhận bị cáo có gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị Ngọc A đi khách vào ngày 03-6-2025 và đồng thời bị cáo cũng đi khách cùng nên người bào chữa cho rằng bị cáo N không có hành vi gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị Ngọc A đi khách như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết đối với bị cáo N là không có căn cứ chấp nhận. Mặt khác, tại bản tự khai, bản tường trình và đơn trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Ngọc A trình bày ngoài ngày 13-6-2025 như cáo trạng và bản án sơ thẩm quy kết ngày 03-6-2025, bị cáo N có gọi cho chị Nguyễn Thị Ngọc A đi khách và sau đi khách chị Ngọc A có đưa tiền cho bị cáo 1.300.000 đồng.
Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định Nguyễn Thanh N phạm tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N:
Tòa án cấp sơ thẩm xem xét cho bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội với 02 tình tiết tăng nặng định khung “Phạm tội 02 lần trở lên;” và “Đối với 02 người trở lên;” nên xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù và phạt bổ sung 15.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đã nộp phạt bổ sung và gia đình bị cáo có công với cách mạng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh N.
[4] Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Thanh N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh N;
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2026/HS-ST ngày 20-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Áp dụng các điểm d, đ khoản 2 khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh N (tên gọi khác: H) 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Phạt bổ sung số tiền 15.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ I - TANDTC; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Phòng GĐKT, TTr &THA; - CQCSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng; - TAND khu vực 4 - Lâm Đồng; - VKSND khu vực 4 - Lâm Đồng; - Phòng THADS khu vực 4 - Lâm Đồng; - Phòng HSNV Công an tỉnh Lâm Đồng; - Bị cáo và người bào chữa; - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng; - Lưu hồ sơ; Án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Công Hoàn Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thành Tâm THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thành Tâm |