- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N - Trần Văn N1"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trần Văn N1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-7-2025 “V/v ly hôn, yêu cầu nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nhật Trường
Ông Nguyễn Hiếu Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 52/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2025 giữa:
* Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1990 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp I Chợ, xã Đ, tỉnh An Giang.
* Bị đơn: ông Trần Văn N1, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 03/3/2025, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N như sau:
Năm 2013 bà và ông Trần Văn N1 gặp nhau ở N thuộc huyện K, tỉnh Kiên Giang, ông bà quen biết, tìm hiểu nhau được một tháng thì ông bà quyết định kết hôn với nhau, ông bà được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang ngày 06/02/2018. Sau khi cưới, vợ chồng bà sống hạnh phúc một hai năm đầu thì bắt đầu mâu thuẫn, nguyên nhân là mỗi lần ông N1 uống rượu sỉn về đều đánh bà, trong thời gian sống chung bà N bị ông N1 đánh nhiều lần, thậm chí còn lấy dao rượt chém bà, làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên ông bà đã tự ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông N1 có đến thăm con vài lần và ông bà có gặp nhau nhưng hai người không thể nói chuyện được với nhau như trước nên vợ chồng không thể hàn gắn hôn nhân lại được nữa, bà N cũng xác định là không còn tình cảm với ông N1 nên bà quyết định ly hôn với ông N1.
Bà N khai trong quá trình sống chung với ông N1, ông bà có một người con chung tên Trần Nguyễn Quốc H, sinh ngày 20/9/2017. Con chung do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi vợ chồng ly thân đến nay. Bà N xác định bà và ông N1 không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân bà N yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn N1. Về con chung bà N yêu cầu được nuôi dưỡng Trần Nguyễn Quốc H, sinh ngày 20/9/2017 và bà N không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Trần Văn N1 không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng ông N1 không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử về hôn nhân chấp nhận cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trần Văn N1. Về con chung giao Trần Nguyễn Quốc H, sinh ngày 20/9/2017 cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về tài sản chung, nợ chung và về cấp dưỡng nuôi con bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bà N yêu cầu ly hôn với ông N1, yêu cầu nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang xác định quan hệ pháp luật “ly hôn, yêu cầu nuôi con” và thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Trần Văn N1 với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng ông N1 vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Văn N1 quen biết, tìm hiểu được một tháng thì ông bà tự nguyện tổ chức đám cưới vào năm 2013 và ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 21/2018 ngày 06/02/2018, cho nên theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà N là bà có nguyện vọng được ly hôn với ông N1 lý do mỗi lần ông N1 uống rượu sỉn về đều đánh bà, trong thời gian sống chung bà N bị ông N1 đánh nhiều lần, thậm chí còn lấy dao rượt chém bà, làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên ông bà đã tự ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, ông N1 có đến thăm con vài lần và ông bà có gặp nhau nhưng hai người không thể nói chuyện được với nhau như trước nên vợ chồng không thể hàn gắn hôn nhân lại được nữa, bà N cũng xác định là không còn tình cảm đối với ông N1 nên bà quyết định ly hôn với ông N1. Tòa án đã tiến hành thông báo hòa giải động viên nhằm tạo điều kiện cho hai bên hàn gắn lại hôn nhân nhưng ông N1 không có mặt nên không thể tiến hành hoà giải được. Tại phiên toà, bà N và ông N1 cũng không gặp và bà N vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông N1 vì bà không còn tình cảm yêu thương dành cho ông N1. HĐXX thấy rằng, do trước khi kết hôn ông bà đã không tìm hiểu kỹ cá tính của nhau nên sau thời gian chung sống giữa bà N và ông N1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông N1 có hành vi bạo lực gia đình, từ đó không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau nên dẫn đến tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N là phù hợp.
Về con chung: Bà N khai vợ chồng bà có một người con chung tên Trần Nguyễn Quốc H, sinh ngày 20/9/2017. Bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian bà N và ông N1 ly thân từ năm 2022 đến nay thì bà N là người trực tiếp nuôi dưỡng Trần Nguyễn Quốc H và cháu H cũng có nguyện vọng muốn được sống với mẹ nên Hội đồng xét xử giao Trần Nguyễn Quốc H, sinh ngày 20/9/2017 cho bà N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế, không trái đạo đức xã hội và đúng quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: bà N không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.
Đối với bị đơn ông N1, Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy ông N1 vắng mặt ở nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ Điều 175, Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông N1 theo quy định nhưng ông N1 vẫn không có mặt không có lý do và ông N1 cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà N cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của ông.
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: bằng 300.000 đồng, bà N phải nộp do có yêu cầu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 175, Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 56, 81 và 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: chấp nhận cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trần Văn N1.
2. Về con chung: Giao Trần Nguyễn Quốc H, sinh ngày 20/9/2017 cho bà Nguyễn Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ông N1 có quyền có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở ông thực hiện quyền này. Khi cần thiết ông bà có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: bà Nguyễn Thị N phải nộp án phí là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu số 0010189 ngày 03/3/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - An Giang. Như vậy, bà N đã nộp xong án phí HNST.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 30/7/2025. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 9, Điều 7, Điều 7a, 7b Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKS khu vực 5 – An Giang; -Phòng THADS khu vực 5 – An Giang; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | Danh Thị Kiều Oanh |