- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Đoàn Ngọc L - An Tài L1"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2025/DS-ST Ngày 22 tháng 12 năm 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh
Ông Huỳnh Tài Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lào – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau,
tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2025/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng mua bán, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXX-ST ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Ngọc L, sinh năm 1989 – Chủ hộ kinh doanh Tân
Quang M.
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 09/7/2021.
Địa chỉ: Ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc T, sinh năm
1995, địa chỉ: Ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 21/9/2022.
- Đồng bị đơn: Ông An Tài L1, sinh năm 1970;
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx
Bà Lê Thị O, sinh năm 1967;
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx
Cùng địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã V1, tỉnh Cà Mau
(Bà Thu có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông Luốl, bà O vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên
đơn Ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc T thống nhất trình bày: Ngày 02/3/2023, ông Đoàn Ngọc L – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M có ký hợp đồng mua bán thức ăn tôm nhãn hiệu Việt Hoa cùng với thuốc, hóa chất cho nuôi trồng thủy sản với vợ chồng ông Luốl, bà O. Tùy theo tình hình nuôi tôm thực tế để giao số lượng cụ thể, ông Luốl, bà O có nghĩa vụ thanh toán dứt điểm toàn bộ công nợ sau khi thu hoạch tôm. Tuy nhiên sau khi thu hoạch tôm, ông Luốl, bà O có thanh toán nhưng không đầy đủ. Đến nay, ông Luốl, bà O còn thiếu ông Đoàn Ngọc L – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M số tiền 200.371.000 đồng. Ngày 30/11/2023 và ngày 09/7/2024 ông Đoàn Ngọc L – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M với ông Luốl, bà O có chốt công nợ với nhau.
Nay ông Đoàn Ngọc L – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M yêu cầu bà O và
ông Luốl trả số tiền nợ gốc còn thiếu là 200.371.000 đồng và tiền nợ lãi tính từ ngày 09/7/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 0,83%/tháng.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn và Lê Thị O trình bày: Ngày 02/3/2023,
ông Đoàn Ngọc L – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M có ký hợp đồng mua bán thức ăn tôm nhãn hiệu Việt Hoa cùng với thuốc, hóa chất cho nuôi trồng thủy sản với bà và ông Luốl (chồng bà O). Tùy theo tình hình nuôi tôm thực tế để giao số lượng cụ thể, ông bà có nghĩa vụ thanh toán dứt điểm toàn bộ công nợ sau khi thu hoạch tôm. Tuy nhiên sau khi thu hoạch tôm, ông bà có thanh toán nhưng không đầy đủ. Đến nay, vợ chồng bà còn thiếu ông Đoàn Ngọc L – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M số tiền 200.371.000 đồng. Ngày 30/11/2023 và ngày 09/7/2024 ông Đoàn Ngọc L – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M với vợ chồng bà có chốt công nợ với nhau. Do vợ chồng bà nuôi tôm bị thua lỗ không có tiền nên không trả được số nợ trên.
Nay ông Đoàn Ngọc L – Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M yêu cầu bà và ông
Luốl trả số tiền nợ gốc còn thiếu là 200.371.000 đồng và tiền nợ lãi tính từ ngày 09/7/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 0,83%/tháng thì bà đồng ý. Tuy nhiên do làm ăn thua lỗ, hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn nên bà xin được trả dần số nợ trên, mỗi tháng trả 1.000.000 đồng và xin không tính lãi.
* Về phía bị đơn ông An Tài L1 sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho ông Luốl nhưng ông cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án; ông Luốl đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án, nên không có lời khai.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cà Mau phát biểu
quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ
án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M, buộc ông An Tài L1 và bà Lê Thị O có nghĩa vụ trả cho Ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M số tiền nợ là 200.371.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 09/7/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 22/12/2025 là 17 tháng 13 ngày là 200.371.000 đồng x 0,83% x 17 tháng 13 ngày = 28.993.015 đồng.
Về án phí: Ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M không phải
chịu án phí; ông Luốl, bà O phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa và quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu
vực 7 - Cà Mau. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:
[1]Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn Ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M khởi kiện
yêu cầu ông An Tài L1 và bà Lê Thị O trả số tiền mua thức ăn nuôi tôm còn thiếu là 200.371.000 đồng nên đây là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn ông An Tài L1 và bà Lê Thị O có nơi cư trú tại ấp Vĩnh Hòa, xã V1, tỉnh Cà Mau, do đó Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét
xử vắng mặt, bị đơn ông An Tài L1 và bà Lê Thị O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh
doanh Tân Quang M khởi kiện yêu cầu ông An Tài L1 và bà Lê Thị O trả số tiền mua thức ăn nuôi tôm còn thiếu là 200.371.000 đồng và cung cấp “Hợp đồng mua bán đề ngày 02/3/2023”, “Bảng đối chiếu xác nhận công nợ đề ngày 30/11/2023 và ngày 09/7/2024”, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Cả nguyên đơn và bị đơn bà Lê Thị O đều xác định từ năm 2023 giữa
Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M và ông An Tài L1, bà Lê Thị O có giao dịch mua bán thức ăn tôm nhãn hiệu Việt Hoa cùng với thuốc, hóa chất cho nuôi trồng thủy sản với nhau, hai bên có ký hợp đồng mua bán đề ngày 02/3/2023. Vào ngày 30/11/2023 và ngày 09/7/2024 Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M với ông Luốl, bà O có đối chiếu xác nhận công nợ, có chữ ký của bà O bên phần khách hàng. Như vậy, việc giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc, hóa chất cho nuôi trồng thủy sản giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và có xảy ra trên thực tế.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/12/2025 bị đơn bà Lê Thị O thừa nhận có
giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản với chủ hộ kinh doanh Tân Quang M và hiện nay còn nợ ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M số tiền 200.371.000 đồng do làm ăn thua lỗ không có tiền để trả nên đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Mặc dù trong vụ án này Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông
Luốl nhưng tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh: “ Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp…”, đồng thời “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”, “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Tại phiếu kết quả xác minh ngày 06/11/2025, Công an xã V1, tỉnh Cà Mau
xác định hiện nay ông An Tài L1 hiện đang sinh sống tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông Luốl để làm việc nhưng ông Luốl vắng mặt được xem là đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.
[2.3] Hợp đồng mua hàng được ký kết có nội dung và hình thức đúng quy định
pháp luật, được hai bên tự nguyện giao kết. Mặc dù ông Luốl vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng nhưng căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như hợp đồng mua bán, bảng đối chiếu xác nhận công nợ, lời trình bày của bà O, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định ông Luốl, bà O có giao dịch mua thức ăn tôm và thuốc thủy sản của chủ hộ kinh doanh Tân Quang M và còn nợ ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M số tiền 200.371.000 đồng, nên yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu tính lãi: Xét yêu cầu của ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh
doanh Tân Quang M yêu cầu Tòa án buộc ông Luốl, bà O trả tiền lãi đối với số nợ gốc 200.371.000 đồng tính từ ngày 09/7/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 0,83%/tháng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định trách
nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”.
Đối chiếu với quy định trên thì ông Luốl, bà O phải chịu lãi suất 50% của
1,66%/tháng (tức 0,83%/tháng), tính từ ngày 09/7/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 22/12/2025 là 17 tháng 13 ngày là 200.371.000đồng x 0,83% x 17 tháng 13 ngày = 28.993.015 đồng. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện này.
[4] Về án phí: Ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M không
phải chịu án phí. Ông Luốl và bà O có nghĩa vụ trả cho ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M số tiền nợ gốc là 200.371.000 đồng và lãi là 28.993.015 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là: 229.364.015 đồng x 5% = 11.468.200 đồng.
[5] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề
nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91;
Điều 92; khoản 2 Điều 184; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 357, Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh
doanh Tân Quang M đối với ông An Tài L1, bà Lê Thị O.
2. Buộc ông An Tài L1 và bà Lê Thị O có trách nhiệm trả cho ông Đoàn Ngọc
L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M số tiền 229.364.015 đồng (nợ gốc là 200.371.000 đồng và lãi là 28.993.015 đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
Buộc ông An Tài L1 và bà Lê Thị O phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch là 11.468.200 đồng.
Ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M không phải chịu án phí.
Ông Đoàn Ngọc L - Chủ hộ kinh doanh Tân Quang M đã nộp tạm ứng án phí 5.549.000 đồng theo biên lai thu số 0002866 ngày 22/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Nơi nhận: -TAND tinh Cà Mau;
| -VKSND khu vực 7 - Cà Mau; -Phòng THADS khu vực 7 - Cà Mau; -Đương sự; -Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Tâm |