vanban.org

Bản án 92/2025/DS-PT — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 13/05/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Kh ng chấp nhận kháng cáo của b đơn ông Tạ Đức T1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguy n Th Thái T. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân th xã A, tỉnh Bình Đ nh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị Thái T - Tạ Đức T"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một s…; Điều 133 Luật Đất đai
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2025/DS-PT
Ngày: 13 - 5 - 2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hà.

Các Thẩm phán: Ông V C ng Phương

Ông Nguy n Thanh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Th Thuý Trư ng - là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Th Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh xét xử phúc thẩm c ng khai vụ án thụ lý số 25/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân th xã A b kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 67/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguy n Th Thái T, sinh năm: 1977; cư trú tại: Xóm A, th n N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh. (Có mặt).

- Bị đơn:

1. Bà Huỳnh Th L, sinh năm: 1965 (Có mặt).

2. Ông Tạ Đức T1, sinh năm: 1962 (Có mặt).

Đồng cư trú tại: Số D N, khu phố D, phư ng Q, thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Đoàn Thanh S, sinh năm 1993; cư trú tại: Th n H, Q, Q, Quảng Nam (Văn bản ủy quyền ngày 22/4/2025). (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguy n Như T2, sinh năm: 1971; cư trú tại: Xóm A, thôn N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh. (Có mặt).

2. Ủy ban nhân dân xã Nhơn Tân

Đ a chỉ: Th n N, xã N, th xã A, Bình Đ nh.

Ngư i đại diện theo pháp luật: Ông Nguy n Huỳnh N, chức vụ: Chủ t ch Ủy ban nhân dân xã N. (Vắng mặt).

Do có kháng cáo của b đơn ng Tạ Đức T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thái T trình bày: Bà và ông Nguy n Như T2 là vợ chồng. Bà Huỳnh Th L và ông Tạ Đức T1 là vợ chồng. Thửa đất số 720, t bản đồ số 6 tại th n N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 02174/QSDĐ/I15 ngày 13/02/2007 cấp cho Nguy n Như T2 và Nguy n Th Thái T (sau đây gọi là thửa đất số 720). Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp tim đư ng Quốc lộ 19, phía Đ ng giáp thửa đất số 408B, phía Nam và phía Tây giáp thửa đất số 408A. Diện tích của thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 162m2 (trong đó 100m2 đất ở và 62m2 đất trồng cây lâu năm khác). Ngày 28/4/2023, Nhà nước thu hồi 21,4m2 đất trồng cây lâu năm khác nên diện tích của thửa đất số 720 còn lại sau khi b thu hồi là 140,6m2 (trong đó 100m2 đất ở và 40,6m2 đất trồng cây lâu năm khác).

Thửa đất số 408B, t bản đồ số 6 tại th n N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01732/QSDĐ/I15 ngày 31/10/2005 cấp cho Tạ Đức T1 và Huỳnh Th L.

Quá trình sử dụng đất, ng T1 và bà L đã lấn chiếm thửa đất số 720 với tổng diện tích theo Sơ đồ hiện trạng nhà và đất lập ngày 25/7/2024 là 69,3m2. Bà yêu cầu ng T1 và bà L phải trả lại 69,3m2 để vợ chồng bà sử dụng. Ngoài ra bà kh ng có yêu cầu nào khác.

Bị đơn bà Huỳnh Thị L và ông Tạ Đức T1 thống nhất trình bày: Thửa đất số 408B, t bản đồ số 6 tại th n N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01732/QSDĐ/I15 ngày 31/10/2005 cấp cho Tạ Đức T1 và Huỳnh Th L (sau đây gọi là thửa đất số 408B). Thửa đất số 720, t bản đồ số 6 tại th n N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 02174/QSDĐ/I15 ngày 13/02/2007 cấp cho Nguy n Như T2 và Nguy n Th Thái T (sau đây gọi là thửa đất số 720).

Nguồn gốc của thửa đất số 408B và thửa đất số 720 là do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại th i điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 408B thì vợ chồng bà T, ông T2 chưa nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó Sơ đồ thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 01732/QSDĐ/I15 kh ng thể hiện v trí tiếp giáp giữa thửa đất số 408B và thửa đất số 720. Thửa đất số 408B có tứ cận: phía Bắc giáp Quốc lộ A, phía Nam giáp Cụm C, phía Đ ng giáp đất của chủ sử dụng đất ng Lưu Thanh T3 thuộc thửa đất số 409, phía Tây giáp thửa đất số 720 và Cụm C (thửa đất số 408A hiện nay là đất của Cụm C).

Bà T cho rằng quá trình sử dụng đất, vợ chồng ng bà đã lấn chiếm thửa đất số 720 với tổng diện tích theo Sơ đồ hiện trạng nhà và đất lập ngày 29/3/2024 là 69,3m2 thì ng bà kh ng đồng ý. Ông bà kh ng lấn chiếm đất của vợ chồng bà T, ông T2. Ông bà yêu cầu Tòa án xác đ nh lại ranh giới giữa hai thửa đất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

Theo Sơ đồ hiện trạng nhà và đất lập ngày 25/7/2024, ng bà xác đ nh ranh giới phía Nam của thửa đất tăng thêm 94,2m2. Tại phiên tòa sơ thẩm, ng bà tự nguyện xác đ nh phần diện tích 94,2m2 này thuộc thửa đất số 410, t bản đồ số 6. Ngoài việc tranh chấp quyền sử dụng đất với vợ chồng bà T, ông T2 thì ông bà không tranh chấp quyền sử dụng đất với các chủ sử dụng đất liền kề khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Như T2 trình bày:

Ông là chồng của bà Nguy n Th Thái T. Ông thống nhất toàn bộ l i trình bày và yêu cầu của bà Nguy n Th Thái T. Ngoài ra ng kh ng có ý kiến hoặc yêu cầu nào khác.

Theo Công văn số 122/UBND ngày 13 tháng 11 năm 2024, Ủy ban nhân dân xã N trình bày:

Theo Trích đo đ a chính thửa đất lập ngày 29/3/2024, nguyên đơn bà Nguy n Th Thái T và b đơn bà Huỳnh Th L đã xác đ nh quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 720, t bản đồ số 6 và thửa đất số 408B, t bản đồ số 6 tại th n N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh chồng lấn lên đất giao th ng (Quốc lộ A) trên đ a bàn xã N do Ủy ban nhân dân xã N quản lý. Đối chiếu với các Hồ sơ kỹ thuật, tính từ tim đư ng Quốc lộ 19 về hướng Nam 11,8 mét, thửa đất số 408B lấn chiếm đất giao th ng có diện tích 29,8m2; tính từ tim đư ng Quốc lộ 19 về hướng Nam 12,4 mét, thửa đất số 720 lấn chiếm đất giao th ng có diện tích 18,1m2 (bao gồm diện tích đất các bên tranh chấp là 2,7m2). Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất được giao quyền sử dụng cho vợ chồng ng Tạ Đức T1, bà Huỳnh Th L kh ng bao gồm phần đất có diện tích 94,2m2 nằm ở phía Nam của thửa đất số 408B. Phần diện tích 94,2m2 này thuộc thửa đất số 410, t bản đồ số 6.

Ủy ban nhân dân xã N đề ngh Tòa án giải quyết vụ án theo quy đ nh của pháp luật.

Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã A quyết định:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguy n Th Thái T.

2. Xác đ nh phần đất các bên đang tranh chấp có diện tích 66,6 m2 thuộc quyền sử dụng của bà Nguy n Th Thái T và ông Nguy n Như T2.

3. Giao cho bà Nguy n Th Thái T và ông Nguy n Như T2 sử dụng phần đất có ký hiệu A, diện tích 131,4 m2 (trong đó 100 m2 đất ở và 31,4 m2 đất trồng cây lâu năm khác) thuộc thửa đất số 720, t bản đồ số 6, tọa lạc tại thôn N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh (có sơ đồ kèm theo). Sau khi Bản án có hiệu lực, bà Nguy n Th Thái T, ông Nguy n Như T2 có quyền liên hệ với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai th xã A để thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai theo quy đ nh.

4. Giao cho bà Huỳnh Th L và ông Tạ Đức T1 sử dụng phần đất có ký hiệu B, diện tích 309m2 (trong đó 154,5m2 đất ở và 154,5m2 đất trồng cây lâu năm khác) thuộc thửa đất số 408B, t bản đồ số 6, tọa lạc tại th n N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh (có sơ đồ kèm theo). Sau khi bản án có hiệu lực, bà Huỳnh Th L, ông Tạ Đức T1 có quyền liên hệ với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai th xã A để thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai theo quy đ nh.

5. Buộc ng Tạ Đức T1, bà Huỳnh Th L trả lại phần đất có ký hiệu E, diện tích 29,8 m2 loại đất c ng trình giao th ng cho Nhà nước quản lý. Buộc ng Nguy n Như T2, bà Nguy n Th Thái T trả lại phần đất có ký hiệu D, diện tích 15,4m2 (bao gồm 2,7 m2 phần đất các bên tranh chấp) loại đất c ng trình giao th ng cho Nhà nước quản lý (có sơ đồ kèm theo).

Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn quyết đ nh về án phí dân sự sơ thẩm; về chi phí tố tụng; về quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 17/01/2025, b đơn ông Tạ Đức T1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ các chứng cứ của vụ án, đưa những ngư i liên quan, những ngư i làm chứng vào tham gia tố tụng và kh ng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên toà, ngư i đại diện theo uỷ quyền của b đơn thay đổi nội dung kháng cáo, chỉ kháng cáo một phần bản án, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận phần đất giáp ranh giữa hai thửa đất khoảng 09m2 thuộc sở hữu của b đơn; buộc bà T phải trả cho vợ chồng b đơn phần đất là khoảng cách giữa móng nhà bà T với tư ng rào nhà ng T1 bà L, diện tích khoảng 09m2 (rộng khoảng 05 tất, dài khoảng 10m).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Đ nh phát biểu ý kiến: Trong quá trình tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng và ngư i tham gia tố tụng thực hiện đúng quy đ nh của pháp luật tố tụng; Đồng th i đề ngh Hội đồng xét xử kh ng chấp nhận kháng cáo của b đơn ng Tạ Đức T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, qua thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, b đơn ng Tạ Đức T1 có đơn kháng cáo. Nội dung đơn kháng cáo của ng phù hợp với quy đ nh tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Nội dung vụ án: Bà Nguy n Th Thái T và ông Nguy n Như T2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 02174/QSDĐ/I15 ngày 13/02/2007 đối với thửa đất số 720, t bản đồ số 6 tại th n N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp tim đư ng Quốc lộ 19, phía Đ ng giáp thửa đất số 408B, phía Nam và phía Tây giáp thửa đất số 408A. Diện tích của thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 162m2 (trong đó 100m2 đất ở và 62m2 đất trồng cây lâu năm khác). Ngày 28/4/2023, Nhà nước thu hồi 21,4m2 đất trồng cây lâu năm khác nên diện tích của thửa đất số 720 còn lại sau khi b thu hồi là 140,6m2 (trong đó 100m2 đất ở và 40,6m2 đất trồng cây lâu năm khác).

Bà T cho rằng quá trình sử dụng đất, ng Tạ Đức T1 và bà Huỳnh Th L là chủ sử dụng thửa đất số 408B, t bản đồ số 6 đã lấn chiếm thửa đất số 720 với tổng diện tích theo Sơ đồ hiện trạng nhà và đất lập ngày 25/7/2024 là 69,3m2. Bà yêu cầu ng T1 và bà L phải trả lại 69,3m2 để vợ chồng bà sử dụng.

. Xét kháng cáo của b đơn ông Tạ Đức T1, HĐXX thấy rằng:

. Thửa đất số 720, t bản đồ số 6 có diện tích theo giấy chứng nhận là 140,6m2 (100m2 đất ở và 40,6m2 đất trồng cây lâu năm khác), ranh giới phía Đ ng của thửa đất giáp với thửa đất số 408B, t bản đồ số 6 (có diện tích theo giấy chứng nhận là 282m2: 200m2 đất ở và 82m2 đất trồng cây lâu năm khác). Theo kết quả đo đạc ngày 25/7/2024, thửa đất 720 có diện tích hiện trạng 146,8m2 (bao gồm phần đất đang tranh chấp) và thửa đất 408B có diện tích thực trạng (kh ng bao gồm phần đất đang tranh chấp) là 433m2.

Căn cứ các Hồ sơ kỹ thuật do Ủy ban nhân dân xã N cung cấp và tại C ng văn số 122/UBND ngày 13/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã N, xác đ nh tính từ tim đư ng Quốc lộ 19 về hướng Nam 11,8m, ông T1, bà L là chủ sử dụng thửa đất số 408B đã lấn chiếm đất giao th ng có diện tích 29,8m2 và sử dụng chồng lấn qua thửa đất số 410, t bản đồ số 6 diện tích 94,2 m2; tính từ tim đư ng Quốc lộ 19 về hướng Nam 12,4 m, ng T2, bà T là chủ sử dụng thửa đất số 720 đã lấn chiếm đất giao th ng có diện tích 18,1m2 (bao gồm diện tích đất các bên tranh chấp là 2,7m2).

Căn cứ vào kết quả đo đạc và C ng văn số 122/UBND ngày 13/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã N: Thửa đất số 702, t bản đồ số 6 có diện tích hiện trạng 148,6m2 (bao gồm 69,3m2 đất đang tranh chấp), trừ đi diện tích đất lấn chiếm giao th ng là 18,1m2, còn lại 128,7m2 so với diện tích giấy chứng nhận 140,6m2 là ít hơn 11,9m2. Thửa đất 408B, t bản đồ số 6 có diện tích hiện trạng 433m2 (kh ng bao gồm diện tích đất tranh chấp), trừ đi diện tích đất lấn chiếm giao th ng là 29,8m2 và 94,2m2 đất chồng lấn qua thửa đất số 410, t bản đồ số 6, còn lại 309m2 so với diện tích giấy chứng nhận 282m2 là tăng 27m2.

Phần diện tích đất mà các bên đang tranh chấp theo kết quả đo đạc hiện trạng là 69,3 m2 bao gồm 2,7m2 lấn chiếm đất giao th ng.

Đối chiếu vào Sơ đồ hiện trạng nhà và đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ng T2, bà T và ranh giới của thửa đất số 720 theo sự xác đ nh của bà T thì hình thể của thửa đất số 720 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và theo sự xác đ nh của bà T là có sự tương đồng. Đối chiếu vào sơ đồ hiện trạng nhà và đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ng T1, bà L và ranh giới của thửa đất số 408B theo sự xác đ nh của ng T1, bà L thì hình thể của thửa đất số 408B theo sự xác đ nh của ng T1, bà L và hình thể của thửa đất số 408B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là kh ng tương đồng.

Do đó, có căn cứ xác đ nh diện tích đất tranh chấp là là 66,6 m2 (69,3m2-2,7m2) thuộc quyền sử dụng của bà T, ông T2.

Tại phiên toà, ngư i đại diện theo uỷ quyền của b đơn thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận phần đất giáp ranh giữa hai thửa đất khoảng 09m2 thuộc sở hữu của b đơn; buộc bà T phải trả cho vợ chồng b đơn phần đất là khoảng cách giữa móng nhà bà T với tư ng rào nhà ông T1 bà L, diện tích khoảng 09m2 (rộng khoảng 0,5m, dài khoảng 16m), Hội đồng xét xử thấy rằng: Thực tế, phần móng nhà của bà T và tư ng rào nhà ng T1 bà L là sát nhau, kh ng có khoảng cách. Mặt khác, theo kết quả đo đạc thực tế thì diện tích đất nhà bà T (bao gồm phần đất đang tranh chấp) vẫn ít hơn diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 11,9m2; còn diện tích đất nhà ông T1 bà L (kh ng bao gồm phần đất đang tranh chấp) trừ đi diện tích đất lấn chiếm giao th ng và đất chồng lấn qua thửa đất số 410, t bản đồ số 6 vẫn tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 27m2. Do đó, kh ng có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của b đơn.

Tòa án cấp sơ thẩm xác đ nh bà T, ông T2 được quyền sử dụng thửa đất số 720 có diện tích 131,4 m2 (bao gồm phần đất các bên tranh chấp là 66,6m2), trong đó 146,8 m2 là diện tích theo hiện trạng, 15,4m2 là diện tích đất lấn đất giao th ng (bao gồm 2,7m2 đất lấn đất giao th ng) là chưa phù hợp tại C ng văn số 122/UBND ngày 13/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã N “… ng T2, bà T là chủ sử dụng thửa đất số 720 đã lấn chiếm đất giao th ng có diện tích 18,1m2, bao gồm diện tích đất các bên tranh chấp là 2,7m2”. Như vậy, bà T, ông T2 được quyền sử dụng thửa đất số 720 có diện tích 128,7m2 (bao gồm phần đất các bên tranh chấp là 66,6m2). Trong đó 146,8 m2 là diện tích theo hiện trạng, 18,1 m2 là diện tích đất lấn đất giao th ng.

. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm kh ng chấp nhận kháng cáo của b đơn ng Tạ Đức T1.

. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng ngh .

. Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy đ nh tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thư ng vụ quốc hội thì ng Tạ Đức T1 là ngư i cao tuổi nên được mi n.

. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Đ nh phát biểu ý kiến là phù hợp một phần với nhận đ nh của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Khoản 21 Điều 3 và điểm k khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai;

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 13 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ;

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

1. Kh ng chấp nhận kháng cáo của b đơn ông Tạ Đức T1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguy n Th Thái T.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân th xã A, tỉnh Bình Đ nh.

- Xác đ nh phần đất các bên đang tranh chấp có diện tích 66,6 m2 thuộc quyền sử dụng của bà Nguy n Th Thái T và ông Nguy n Như T2.

- Giao cho bà Nguy n Th Thái T và ông Nguy n Như T2 sử dụng phần đất có ký hiệu A, diện tích 128,7 (trong đó 100 m2 đất ở và 28,7 m2 đất trồng cây lâu năm khác) thuộc thửa đất số 720, t bản đồ số 6, tọa lạc tại th n N, xã N, th xã A, tỉnh Bình Đ nh (có sơ đồ kèm theo). Sau khi Bản án có hiệu lực, bà Nguy n Th Thái T, ông Nguy n Như T2 có quyền liên hệ với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai th xã A để thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai theo quy đ nh.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tạ Đức T1 được mi n.

3. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng ngh .

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ