- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Thị Bích N phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Bích N
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2024/HS-PT Ngày: 19/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Được
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang– Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xét xử số 02, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 104/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Lê Thị Bích N do có kháng cáo của bị cáo Lê Thị Bích N đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 205/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị cáo có kháng cáo:
LÊ THỊ BÍCH N, sinh năm: 1989, tại tỉnh Bến Tre; Nơi thường trú: Số 269 ấp S, xã S, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Nơi ở hiện nay: ấp Nguyễn Rớt, xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Văn D và bà Phạm Thị L. Có 02 người con. Tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị Bích N là người giúp việc thuê cho gia đình bà Lê Thị Hồng H. Vào ngày 19/3/2024, mẹ bà H chết nên bà H đang ở nhà mẹ lo việc tang sự thì có nhờ N mang đồ dùng cá nhân ra nhà mẹ bà H, sau đó giữa N và bà H xảy ra mâu thuẫn cải vã. Sau khi trở về, N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà H và bỏ đi. N lấy trộm 01 máy tính bảng Ipad, 01 điện thoại di động hiệu Oppo đang sạc ở ngoài phòng khách, 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu trắng biển kiểm soát 51N1-636.67 để ở sân nhà bà H. Sau khi lấy được tài sản trên, N điều khiển xe máy trên cùng số tài sản trộm cắp được đến khu vực giáp ranh với TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai để bán cho một thanh niên (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với tổng số tiền là 3.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên N đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Phan Rang Tháp Chàm kết luận: Tổng giá trị tài sản là 12.000.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Bích N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Bích N 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
* Phần kháng cáo:
Ngày 27/9/2024, bị cáo Lê Thị Bích N kháng cáo xin cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp 01 giấy chứng sinh có một con gái sinh năm 2022, hiện nay là mẹ đơn thân. Bị cáo có hộ khẩu thường trú tại xã S, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Xét thấy bị cáo ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định. Căn cứ vào Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022, hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm bản thân để về chăm sóc con còn nhỏ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Bích N. Sửa án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để về chăm 02 con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Lê Thị Bích N kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Bích N khai nhận hành vi phạm tội của mình, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 11 giờ ngày 19/3/2024, bị cáo N có hành vi lén lút trộm cắp 01 máy tính bảng hiệu Apple, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 của bà Lê Thị Hồng H, 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 51N1-636.67 của vợ chồng bà Lê Thị Hồng H và ông Phan Sỹ T. Tổng tài sản bị chiếm đoạt là 12.000.000 đồng.
Do vậy cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo, thấy rằng: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhận biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tính tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Tuy nhiên bị cáo phạm tội nhất thời, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp 01 giấy chứng sinh có xác nhận của Trạm y tế xã T, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp thể hiện đã sinh được 01 bé gái vào ngày 19/02/2022. Hiện nay bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi hai con nhỏ trong đó có bé gái sinh năm 2022. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại Khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022, hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm bản thân, chăm sóc các con còn nhỏ.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với phân tích của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Như không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thị Bích N
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 205/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về phần hình phạt;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Bích N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Bích N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bán án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Về án phí: Bị cáo Lê Thị Bích N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP.Phan Rang Tháp Chàm; - TAND TP.Phan Rang Tháp Chàm; - Công an TP.Phan Rang Tháp Chàm ; - Chi cục THADS TP.Phan Rang Tháp Chàm; - PV 27; - Sở Tư pháp (kèm án sơ thẩm); - Người đã kháng cáo; - Phòng KTNV-THA; HCTP; - Lưu: án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hằng |