- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị P. Cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Thanh X.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/4/2024 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông BÙI VĂN MÀU
2. Bà ÂU THỊ NGỌC HOA
- Thư ký phiên tòa: Ông CAO TRẦN KHẮC HUY - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Không có.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị NGUYỄN THỊ P, sinh năm 1995
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Anh NGUYỄN THANH X, sinh năm 1988
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Chị P có đơn xin vắng mặt, anh X vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng đề ngày 29/12/2023, nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:
Do quen biết nên chị và anh X xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã H. Sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường tranh cãi, anh X thường đánh đập chị, đã ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Nay chị xin ly hôn anh X.
Con chung có 02 cháu Nguyễn Thanh H, sinh ngày 20/02/2014; Nguyễn Khánh B, sinh ngày 14/6/2018, hiện đang sống với anh X.
Tài sản chung và nợ chung không có. Chị có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt.
Bị đơn không cung cấp văn bản ý kiến gì và vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, chị P có đơn xin vắng mặt, anh X vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Chị Nguyễn Thị P có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt, anh Nguyễn Thanh X vắng mặt không lý do. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày của chị P có trong hồ sơ vụ án, chị cho rằng anh chị đã xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, hay tranh cãi, anh X thường đánh đập chị, anh chị đã ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh X. Đồng thời, trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án, anh X không cung cấp văn bản ý kiến và vắng mặt không lý do thể hiện anh đã bỏ mặc, không còn quan tâm gì đến cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị P. Do đó, cuộc sống hôn nhân của anh chị đã thật sự đổ vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Xét thấy, tiếp tục giao hai cháu Nguyễn Thanh H, sinh ngày 20/02/2014; Nguyễn Khánh B, sinh ngày 14/6/2018 cho anh X nuôi là có cơ sở. Bởi lẽ, hai cháu đã sống ổn định với anh X từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay và cháu H cũng có mong muốn được sống với cha khi cha mẹ ly hôn. Từ đó, tiếp tục giữ nguyên hiện trạng việc nuôi con chung là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác định không có và anh X không có ý kiến gì về việc này nên không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Chị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị P. Cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Nguyễn Thanh X.
Về con chung: Tiếp tục giao hai cháu Nguyễn Thanh H, sinh ngày 20/02/2014; Nguyễn Khánh B, sinh ngày 14/6/2018 cho anh X nuôi. Chị P không phải cấp dưỡng nuôi con do anh X không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, chị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014847 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nên xem như thi hành xong.
Về quyền kháng cáo: Chị P và anh X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tænh Tieàn Giang; TÒA - VKSND huyeän Caùi Beø; - Chi cuïc THADS huyeän Caùi Beø; - UBND xã H; - Caùc ñöông söï; - Löu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Hoàng Xuân Lam |