- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGĐ giữa chị Vi Thị L và anh Lô Văn V (Không đăng ký kết hôn)"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Vi Thị L và anh Lô Văn V; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Vi Thị L và anh Lô Văn V; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Vi Thị L và anh Lô Văn V
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-12-2024 V/v tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Vân;
Ông Lầu Bá Chò.
- Thư ký phiên toà: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Và Bá Của - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị L, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Lô Văn V, sinh năm 1981;
Nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Vi Thị L vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Vi Thị L trình bày:
Về quan hệ tình cảm: Chị Vi Thị L và anh Lô Văn V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008, không đăng ký kết hôn tại UBND xã phường, thị trấn mà chỉ tổ chức lễ cưới, mời hai họ, anh em tới dự lễ cưới theo phong tục tại địa phương. Thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lô Văn V sa đà vào tệ nạn xã hội và nghiện ma túy, anh V thường xuyên bỏ đi khỏi nhà, không quan tâm, chăm sóc gia đình. Chị Vi Thị L và gia đình nội ngoại hai bên đã nhiều lần hòa giải, khuyên nhủ nhưng anh Lô Văn V vẫn không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ 8/2013. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không hạnh phúc nên chị Vi Thị L không muốn tiếp tục chung sống đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố chị và anh Lô Văn V không phải là vợ chồng.
Về con chung: Chị Vi Thị L và anh Lô Văn V có 01 con chung là cháu Vi Thị Huyền T, sinh ngày 06/02/2013. Nay ly hôn chị Vi Thị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu trưởng thành. Không yêu cầu anh Lô Văn V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn chị Vi Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bị đơn anh Lô Văn V vắng mặt, tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án, anh Lô Văn V trình bày:
Về quan hệ tình cảm: Anh Lô Văn V thừa nhận về thời gian, địa điểm chung sống đúng như chị Vi Thị L trình bày. Sau khi lấy nhau thì vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường cho đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, lối sống không hợp nhau, anh nghiện ma túy dẫn đến gia đình thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã. Vợ chồng sống ly thân từ 8/2013. Hiện nay tình cảm giữa hai bên không còn, đời sống chung hòa hợp, anh đồng ý đề nghị Tòa án không công nhận anh và Vi Thị L là vợ chồng.
Về con chung: Anh và chị Vi Thị L có 01 con chung là cháu Vi Thị Huyền T, sinh ngày 06/02/2013. Chị Vi Thị L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con trưởng thành. Anh Lô Văn V đồng ý thống nhất với ý kiến, yêu cầu của chị Vi Thị L về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Bị đơn anh Lô Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Về hôn nhân: Không công nhận chị Vi Thị L và anh Lô Văn V là vợ chồng; về con chung: Giao con chung là cháu Vi Thị Huyền T, sinh ngày: 06/02/2013 cho chị Vi Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Lô Văn V do hai bên đương sự thỏa thuận thống nhất không yêu cầu; về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Vi Thị L và anh Lô Văn V thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Vi Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh Lô Văn V là vợ chồng có địa chỉ cư trú tại xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Tranh chấp về nuôi con, tài sản của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 7 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Nguyên đơn chị Vi Thị L và bị đơn anh Lô Văn V vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên việc giải quyết vụ án, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ tình cảm chung sống với nhau như vợ chồng: Chị Vi Thị L và anh Lô Văn V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008 đến nay, không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà chỉ làm lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương nên theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì quan hệ giữa chị Vi Thị L và anh Lô Văn V không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ và chồng. Sau thời gian chung sống với nhau thì giữa hai người phát sinh nhiều nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lô Văn V sa đà vào tệ nạn xã hội và nghiện ma túy, anh Viêng thường xuyên bỏ đi khỏi nhà, không quan tâm, chăm sóc gia đình. Chị Vi Thị L và gia đình nội ngoại hai bên đã nhiều lần hòa giải, khuyên nhủ nhưng anh Lô Văn V vẫn không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ 8/2013. Hiện nay chị Vi Thị L không còn tình cảm với anh Lô Văn V, không muốn tiếp tục duy trì cuộc sống chung. Xét thấy, việc chung sống, thời gian chung sống giữa chị Vi Thị L và anh Lô Văn V là đúng thực tế, nay có bên yêu cầu ly hôn nên căn cứ các Điều 9, 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Vi Thị L và anh Lô Văn V không phải là vợ chồng.
Về con chung: Chị Vi Thị L và anh Lô Văn V trong thời gian chung sống có 01 con chung là cháu Vi Thị Huyền T, sinh ngày 06/02/2013. Nay ly hôn, chị Vi Thị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Vi Thị Huyền T cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh Lô Văn V phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Vi Thị Huyền T cũng có nguyện vọng được ở với chị Vi Thị L. Xét thấy, hiện nay anh Lô Văn V nghiện ma túy (hiện đang bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An về tội phạm ma túy) nên việc giao con chung cho anh Lô Văn V nuôi dưỡng, chăm sóc là không đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Vì vậy, cần giao con chung là cháu Vi Thị Huyền T, sinh ngày 06/02/2013 cho chị Vi Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp, đúng quy định, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do chị Vi Thị L không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Lô Văn V. Trường hợp chị Vi Thị L nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh Lô Văn V có căn cứ chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp anh Lô Văn V lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vi Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Lô Văn V.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Vi Thị L và anh Lô Văn V thống nhất không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Vi Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L.
1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Vi Thị L và anh Lô Văn V là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Vi Thị Huyền T, sinh ngày 06/02/2013 cho chị Vi Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Lô Văn V. Anh Lô Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị Vi Thị L là người trực tiếp nuôi con chung không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh Lô Văn V có căn cứ chứng minh thì anh Lô Văn V có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh Lô Văn V lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vi Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Lô Văn V.
3. Về án phí: Chị Vi Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001088 ngày 14/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. (Chị Vi Thị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An - VKSND huyện Kỳ Sơn; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - Lưu hồ sơ; VP.TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên |