vanban.org

Bản án 92/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 08/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm Tội trộm cắp tài sản;

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 04 tháng tù (bốn tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. [2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm Tội trộm cắp tài sản;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2023/HSST
Ngày: 08/8/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Bà Lê Thị Thận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2023/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2023/ QĐXXST – HS ngày 24 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Hoàng Văn K, sinh năm 1965, tại tỉnh L

Căn cước công dân số: 020065000xxx cấp ngày 08/4/2021.

Nơi cư trú: Thôn x, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn K và bà Nông Thị T; bị cáo có vợ và 02 người con đã trưởng thành; tiền án: Không

Tiền sự: Ngày xx/xx/2022, bị Công an xã P, huyện Bù Đăng xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

Bị hại: Lê Nguyên S, sinh năm 19xx, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng).

Địa chỉ: Khu Đ, thị trần Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền tiêu xài nên vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, Hoàng Văn K đi bộ vào chòi trong rẫy của anh Lê Nguyên S thuộc khu vực thôn x, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước để lấy tài sản. Khi đến nơi, K đi vào bên trong lấy 01 máy phát cỏ rồi mang về nhà của mình thuộc thôn 6, xã Phước Sơn cùng huyện Bù Đăng cất giấu. Phát hiện mất tài sản, anh S đã làm đơn trình báo đến Công an xã Phước Sơn. Công an xã Phước Sơn mời K làm việc, K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp vật chứng. Công an xã Phước Sơn lập Biên bản chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Ngoài ra, vào ngày 10/11/2022, K bị Uỷ ban nhân dân xã Phước Sơn, huyện Bù Đăng xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Cùng ngày K đã nộp phạt.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 07/KL-ĐG ngày 28/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bù Đăng, kết luận: Tại thời điểm xảy ra tội phạm 01 máy phát cỏ có giá trị 1.500.000 đồng.

- Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng đã xử lý: Trả lại cho anh Lê Nguyên S 01 máy phát cỏ.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường 2.000.000 đồng và tài sản, không yêu cầu gì thêm, đề nghị xử lý nhẹ cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 94/CT –VKS.BĐ ngày 14/7/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Hoàng Văn K về Tội trộm cắp tài sản, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm Tội trộm cắp tài sản;

Về hình phạt,

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn K từ 03 đến 06 tháng tù.

Vê hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Bị cáo Hoàng Văn K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào ngày 29/12/2022, Hoàng Văn K lén lút chiếm đoạt 01 máy phát cỏ có giá trị 1.500.000 đồng của anh Lê Nguyên S tại khu vực Thôn x, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Mặc dù giá trị tài sản bị xâm phạm chưa đủ định lượng xử lý hình sự. Tuy nhiên, ngày 10/11/2022, bị cáo Hoàng Văn K bị Uỷ ban nhân dân xã Phước Sơn, huyện Bù Đăng xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, tại lần phạm tội này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm a, khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Hoàng Văn K đã phạm vào Tội trộm cắp tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì lười lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài. Bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng đã trả lại cho bị hại 01 máy phát cỏ là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường, đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo đã lớn tuổi nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm Tội trộm cắp tài sản;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 04 tháng tù (bốn tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Văn K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ