vanban.org

Bản án 92/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 05/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Quách Văn Kh 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2023. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn Kh phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÒA B
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2023/HS – ST
Ngày 30/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA B – TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga và ông Trịnh Xuân Nguyên

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ước – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 77/2023/TLST – HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Quách Văn Kh, sinh ngày 01/9/1985 tại huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình

Nơi cư trú: Phố Mường Ch, thị trấn Vụ B, huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình

Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không; Con ông: Quách Văn Đ và bà Quách Thị Đ (đều đã chết); có vợ là Quách Thị Th, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009.

Tiền sự: Không

Tiền án: Có một tiền án

Ngày 15/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 24/9/2022. Bị cáo chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Về nhân thân:

Ngày 06/7/2015 bị Công an phường Đồng T, thành phố Hòa B quyết định xử phạt vi phạm chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Số tiền 1.500.000 đồng. Quách Văn Kh được miễn nộp phạt tiền.

Ngày 21/10/2016 bị Công an phường Đồng T, thành phố Hòa B quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Ngày 23/02/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 22/02/2019.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2023 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Quách Văn Kh là bà Nguyễn Thị Hồng Nhung- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình; Có mặt

Bị hại: Công ty TNHH Sơn H

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh Hà- Giám đốc.

Địa chỉ: Tổ 1, phường Thịnh L, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình; Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty:

Ông Trần Tiến Ph, sinh năm 1969; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 10, phường Đồng T, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969; Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 2, phường Quỳnh L, thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quách Văn Kh là đối tượng nghiện chất ma túy, thường lang thang từ huyện Lạc S ra thành phố Hòa Bình, mục đích tìm kiếm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 13 giờ ngày 08/5/2023 Kh phát hiện tại Công trường đang thi công sữa chữa tại khu vực Tòa nhà B9- B7 của Bệnh viện tỉnh Hòa Bình có một đoạn dây cáp điện được cuộn trong Rulo gỗ do Công ty trách nhiệm hữu hạn Sơn H đang thi công nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, nhưng do lúc này có nhiều người xung quanh nên Kh đợi đến khoảng 18h00 cùng ngày, quan sát thấy xung quanh không có người trông coi, Kh lén lút tiến lại gần, dùng hai tay cầm đầu dây cáp điện kéo ra khỏi Rulo gỗ rồi cuộn tròn lại. Khi Kh kéo đoạn dây cáp điện đi được khoảng 30 mét về hướng tường bao phía sau bệnh viện thì bị ông Nguyễn Văn T nhân viên bảo vệ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình phát hiện và mọi người truy hô đuổi bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.

Tại Kết luận định giá số: 89/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hòa Bình kết luận: 10 (mười mét) dây cáp điện nhãn hiệu: CADI-SUN ELECTRIC CABLE 06.1kV Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC – DSTA 4cx50 SQMM 100382024 *21MB50231113*, tình trạng đã qua sử dụng, giá trị tài sản là 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Cáo trạng số: 80/CT-VKSCP ngày 25/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Quách Văn Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quách Văn Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Quách Văn Kh giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Quách Văn Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Văn Kh mức án từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép cao su màu đen đã qua sử dụng của Quách Văn Kh.

Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Hồng Nhung trình bày lời bào chữa cho bị cáo Quách Văn Kh: Không có ý kiến gì đối với tội danh và điều luật áp dụng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B đã truy tố đối với bị cáo, người bào chữa chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình hộ nghèo, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại, bị cáo bị nhiễm HIV. Từ những phân tích và lập luận nêu trên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Văn Kh 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Bị hại Công ty TNHH Sơn H đã nhận lại tài và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo. Về hình phạt đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hòa B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người làm chứng vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quách Văn Kh khai nhận: Do nghiện chất ma túy, không có tiền chi tiêu cá nhân và mua ma túy sử dụng, nên khoảng 13 giờ, ngày 08/5/2023 Khải đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 10 (mười mét) dây cáp điện nhãn hiệu: CADI-SUN ELECTRIC CABLE 06.1kV Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC – DSTA 4cx50 SQMM 100382024 *21MB50231113*; trị giá: 5.000.000đ (năm triệu đồng) của Công ty TNHH Sơn Hà, bị cáo chưa kịp tiêu thụ thì bị bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại; vật chứng thu giữ; kết qủa định giá tài sản cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa B, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Quách Văn Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã có một tiền năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo 15 tháng tù, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt hành chính và đã bị Tòa án nhân dân huyện Lạc S, tỉnh Hòa Bình quyết định cưỡng chế cai nghiện. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân lại tiếp tục phạm tôi. Nên cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quách Văn Kh đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, trình độ học vấn thấp, không được đi học. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- 10 (mười mét) dây cáp điện. Bị hại Công Ty TNHH Sơn H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên không đề cập.

- 01 (một) đôi dép cao su màu đen của Quách Văn Kh. Xét đây là tài sản giá trị sử dụng không lớn, đã qua sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Quách Văn Kh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luât.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản".

3. Xử phạt: Bị cáo Quách Văn Kh 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2023.

4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi dép cao su màu đen của Quách Văn Kh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số: 93/BB ngày 23 tháng 8 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hòa B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa B).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Quách Văn Kh phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ