vanban.org

Bản án 92/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 16/02/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/02/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Lưu Văn C cho Uỷ ban nhân dân xã Trung Mỹ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn C phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2023/HS-PT
Ngày 05 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thuý Mai.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 107/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Lưu Văn C, do có kháng cáo của bị cáo Lưu Văn C, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2023/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Lưu Văn C; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không. Sinh ngày 25/4/1968; Trú tại: Thôn B1, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán dìu; tôn giáo: Không; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; trình độ học vấn: 3/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ: Lưu Văn X, sinh năm 1931 (đã chết); mẹ đẻ: Lê Thị L, sinh năm 1937 (đã chết); vợ: Dương Thị T1, sinh năm 1973 (đã ly thân); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương “có mặt”.

Bị hại: Nguyễn Văn S, sinh ngày 29/6/1982; nơi cư trú: Thôn B1, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (S vừa là bị hại vừa là bị cáo trong vụ án), “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Văn C và Nguyễn Văn S là hàng xóm cùng trú tại Thôn B1, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng 18h30′ ngày 26/11/2022 S cùng anh Dương Tuấn Anh ở cùng thôn đến nhà C để đòi số tiền 3.000.000đ mà S đã cho C vay trước đó, lúc này C đi uống rượu nên S và Tuấn Anh đứng đợi tại cổng. Đến khoảng 20h cùng ngày, C chở anh Phạm Văn Quang ở cùng thôn về đến nhà. C, anh Quang, Tuấn Anh và S cùng đi vào nhà ngồi uống nước tại gian giữa ngôi nhà. Anh Quang, C ngồi ghế bên tay trái, S ngồi ghế bên tay phải theo hướng từ ngoài vào. S yêu cầu C trả số tiền đã vay, do chưa có tiền nên C khất nợ, nhưng S không đồng ý dẫn đến cãi chửi nhau. Thấy S chửi mình C liền đứng dậy cầm chiếc điều cày bằng tre, dài 65cm, đường kính 5cm vung lên vụt 02 phát trúng vào mạng sườn bên trái của S, làm gãy xương sườn 9,10 bên trái. Trong lúc hai bên xô sát đánh nhau có bị vỡ 01 phích nước Rạng Đông, 02 cốc uống nước bằng thủy tinh. Bị C đánh, S không đánh lại mà nhìn quanh thì thấy chiếc Tivi Samsung, 55 inch nhà C được đặt trên chiếc kệ tivi làm bằng kính, chân kệ bằng inox kê tại gian cạnh bên trái, S nảy sinh ý định phá hỏng chiếc tivi và kệ nên đã tiến đến dùng 02 tay nhấc một đầu kệ lên cao rồi thả rơi tự do khiến tivi và chiếc kệ rơi xuống bị vỡ.

Sau khi sự việc xảy ra C đã có đơn trình báo đến Công an xã Trung Mỹ về việc S đập vỡ tivi và kệ tivi, S cũng có đơn yêu cầu khởi tố vụ án về hành vi C đánh gây thươngtích. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan điều tra đã tổ chức tiến hành khám nghiệm hiện hiện trường theo quy định, đã tạm giữ: 01 tivi (đã vỡ hỏng), 01 kệ tivi (đã vỡ hỏng), các mảnh vỡ thủy tinh, mảnh sứ và 01điếu cây bằng tre dài 65cm, đường kính 05cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 473/Tg1 ngày 11/01/2023 Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đối với S kết luận: Gãy 02 xương sườn bên trái, mỗi xương sườn xếp 02%, 02%, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể xếp: 04%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 155 ngày 13/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 tivi nhãn hiệu Samsung 55inch, sản xuất tháng 9/2022 bị hư hỏng, không thể khắc phục, sửa chữa được, trị giá 8.500.000đ; 01 kệ tivi các mặt được làm bằng thủy tinh, bị hư hỏng không khắc phục, sử dụng được, trị giá 1.300.000đ; 02 chiếc cốc thủy tinh, trị giá 12.400đ; 01 phích nước nhãn hiệu Rạng Đông, trị giá 118.300đ; 01 chén sứ, màu trắng, trị giá 4.100đ. Tổng trị giá tài sản định giá là 9.934.800đ.

Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2023/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện B đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lưu Văn C 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 04 tháng tháng kể từ ngày tuyên án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/6/2023, bị cáo C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện B, với lý do việc điều tra thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, áp dụng tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của các bị cáo chưa đúng, cho bị cáo S hưởng án treo và quyết định hình phạt cho các bị cáo chưa đúng.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ngày 30/8/2023 bị cáo C có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo đối với bị cáo S, đồng thời sửa đổi nội dung kháng cáo, xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa đã phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn C, sửa Bản án sơ thẩm số 37/2023/HSST ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lưu Văn C 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo C làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét giải quyết.

. Về nội dung vụ án: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được cơ quan điều tra thu thập khách quan, đúng pháp luật, từ đó có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 20h ngày 26/11/2022, tại nhà ở của Lưu Văn C ở Thôn B1, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, do có mâu thuẫn trong việc vay nợ giữa Lưu Văn C và Nguyễn Văn S, dẫn đến C và S lời qua tiếng lại, mâu thuẫn cãi nhau to tiếng, hai bên đứng dậy có lời lẽ thách thức nhau, lao vào giằng co du đẩy nhau và anh Phạm Văn Quang đã phải vào can ngăn; sau đó C đã có hành vi dùng 01 chiếc điều cày bằng tre, kích thước dài 65cm, đường kính 05cm, vụt 02 phát vào mạn sườn bên trái, làm gãy xương sườn số 9 và số 10 của Nguyễn Văn S. Kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của S là 04%. Sau khi bị C đánh, S không đánh lại mà đi đến vị trí để kệ tivi trên đó có 01 tivi Samsung 55inch; S dùng tay nâng kệ tivi lên cao rồi thả rơi tự do, gây hủy hoại 01 tivi Samsung 55inch, 01 kệ tivi bằng thủy tinh, 01 chén sứ, thiệt hại về tài sản theo kết luận định giá là 9.804.100đồng.

. Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2023/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện B đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lưu Văn C 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

. Trong vụ án này, xuất phát từ mâu thuẫn do việc vay nợ giữa Lưu Văn C và Nguyễn Văn S, dẫn đến C có hành vi đánh gây thương tích cho S. Thực tế khi S gọi điện, sau đó đến nhà C đòi nợ hai bên gặp nhau tại nhà C thì giữa S và C đều có lời lẽ, thái độ không đúng mực, hai bên đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau to tiếng; khi đang ngồi uống nước nói chuyện, do mâu thuẫn nên S và C cãi nhau và có lời lẽ thách thức nhau, cả hai cùng đứng dậy, C và S lao vào giằng co, du đẩy nhau về phía giường ngủ bên tay phải, và anh Phạm Văn Quang đã phải vào can ngăn; sau đó C đã có hành vi dùng 01 chiếc điều cày bằng tre, kích thước dài 65cm, đường kính 05cm, vụt 02 phát vào mạn sườn bên trái, làm gãy xương sườn số 9 và số 10 của Nguyễn Văn S. Kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của S là 04%.

. Như vậy có thể thấy, trong trường hợp này không phải vô cớ C có hành vi đánh, gây thương tích cho S, mà xuất phát từ mâu thuẫn khá căng thẳng giữa hai bên, như phân tích ở trên C và S đã xảy ra mâu thuẫn to tiếng, cãi nhau hai bên có lời lẽ thách thức, giằng co, du đẩy nhau. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo C về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định tội “Dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Tuy nhiên cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu thêm tình tiết định tội là “phạm tội có tính chất côn đồ” theo điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là không chính xác, cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

. Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo C, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung. Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo C, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.Tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Về án phí: Bị cáo C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn C, sửa Bản án số 88/2023/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lưu Văn C 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lưu Văn C cho Uỷ ban nhân dân xã Trung Mỹ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Lưu Văn C không phải chịu án phí phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ