vanban.org

Bản án 92/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Trần Văn V.

Về con chung: Giao hai con chung Trần Thị Thùy D, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2009 và Trần Thị Thùy T, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Trần Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN D
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-8-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Ngọc Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện An D, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ; Nơi cư trú: Thôn 2, D, xã T, huyện An D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

Bị đơn: Anh Trần Văn V; Nơi cư trú: Thôn 2, D, xã T, huyện An D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 18 tháng 5 năm 2023 và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trần Văn V trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Tiến, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 26 tháng 01 năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh V tại thôn 2 D, xã T, huyện An D, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do anh V mải chơi, không quan tâm đến gia đình vợ con nên vợ chồng thường xuyên xẩy ra va chạm, cãi nhau và mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên chị và anh V đã sống ly thân, không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn V.

Về con chung: Chị và anh Trần Văn V có hai con chung là Trần Thị Thùy D, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2009 và Trần Thị Thùy T, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do và không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An D phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã vi phạm Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Trần Văn V. Về con chung: Giao hai con chung Trần Thị Thùy D, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2009 và Trần Thị Thùy T, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Đ khởi kiện ly hôn đối với anh Trần Văn V, yêu cầu khởi kiện của chị Đ thuộc trường hợp ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Trần Văn V đang cư trú tại xã T, tại huyện An D, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An D, T.P Hải Phòng.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Văn V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ và bị đơn anh Trần Văn V.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện An D, thành phố Hải Phòng vào ngày 26 tháng 01 năm 2015, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra va chạm, cãi nhau, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân không ai còn quan tâm và có trách nhiệm đến ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị Điệp và anh Vượng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Điệp là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Trần Văn V có hai con chung là Trần Thị Thùy D, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2009 và Trần Thị Thùy T, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014. Xét, con chung Trần Thị Thùy D và Trần Thị Thùy T hiện chưa đủ 18 tuổi nên việc nuôi dưỡng con chung sau ly hôn là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án anh V không có quan điểm về việc nuôi con nhưng thực tế từ khi sống ly thân các con chung do chị Điệp trực tiếp nuôi dưỡng và các con chung đều có nguyện vọng được ở với chị Đ. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của các con nên chấp nhận yêu cầu của chị Đ về việc nuôi con là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản: Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết còn anh V không có quan điểm về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Trần Văn V.

2. Về con chung: Giao hai con chung Trần Thị Thùy D, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2009 và Trần Thị Thùy T, sinh ngày 31 tháng 12 năm 2014 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về việc cấp dưỡng và tài sản: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Đ đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005110 ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An D, thành phố Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ