- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Cà N .
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH A Bản án số: 92/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 6 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH A
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn H.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Quốc H.
2. Bà Diệp Thị Thu N.
- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: bà Bùi Phương A - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Trần Thị Cà N , sinh năm 1988. (Có mặt).
Địa chỉ: ấp S, xã V, huyện T , tỉnh A .
2. Bị đơn: ông Trần Hùng L , sinh năm 1982. (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã M , huyện T , tỉnh A .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 10/5/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Cà N trình bày: sau thời gian tìm hiểu, bà Trần Thị Cà N với ông Trần Hùng L tiến đến hôn nhân vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã M , huyện T , tỉnh A vào ngày 21/8/2006. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và sinh được 02 con chung tên Trần Phương Đ , sinh ngày 23/4/2007 và Trần Hùng V , sinh ngày 01/11/2008. Đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến tháng 6 năm 2019 thì bà Cà N đi P làm thuê. Cháu Đ và cháu V ở lại sống chung với ông L . Đến năm 2020, bà Cà N rước cháu Đ về sống chung với bà Cà N cho đến nay. Nhận thấy, không còn tình cảm vợ chồng nên bà Cà N yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về hôn nhân: bà Cà N yêu cầu được ly hôn với ông L .
Về con chung: bà Cà N yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Phương Đ ; không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Bà Cà N đồng ý giao cháu Trần Hùng V cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng; bà Cà N không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Bị đơn ông Trần Hùng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên:
+ Về hôn nhân: bà Trần Thị Cà N được ly hôn với ông Trần Hùng L .
+ Về con chung:
Giao cháu Trần Phương Đ cho bà Trần Thị Cà N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; ông L không cấp dưỡng nuôi con.
Giao cháu Trần Hùng V cho ông Trần Hùng L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; bà Cà N không cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.
+ Về án phí: bà Trần Thị Cà N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Hùng L có địa chỉ tại xã M , huyện T , tỉnh A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Trần Hùng L đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập ông L đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Cà N và ông Trần Hùng L chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn nên được UBND xã M , huyện T , tỉnh A cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 21, ngày 21/8/2006. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà Trần Thị Cà N và ông Trần Hùng L phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Cà N thấy rằng, bà với ông L sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Đến tháng 6 năm 2019 mâu thuẫn vợ chồng diễn ra ngày càng nhiều và trầm trọng hơn nên bà Cà N và ông L sống ly thân cho đến nay.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ cho ông L thông báo hòa giải nhằm tạo điều kiện cho ông L và bà Cà N hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, ông L không đến tham gia các phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được chung sống với bà Cà N.
Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 27/3/2023, được đại diện Ban ấp T, xã M , huyện T , tỉnh A cung cấp như sau: bà Trần Thị Cà N và ông Trần Hùng L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì bà Cà N và ông L sống ly thân. Mâu thuẫn gia đình thì địa phương không biết rõ.
Từ những nhận định tại mục [3], xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Cà N và ông Trần Hùng L đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019. Mặc dù bà Cà N đã cố gắng duy trì quan hệ hôn nhân nhưng vợ chồng vẫn sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay. Tại phiên tòa, bà Cà N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông L , vì giữa 02 người không còn tình nghĩa vợ chồng. Xét, tình trạng hôn nhân giữa bà Cà N và ông L mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Cà N .
Về quan hệ con chung: bà Cà N và ông L có 02 con chung tên Trần Phương Đ và Trần Hùng V . Bà Cà N yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đ và đồng ý để ông L nuôi dưỡng cháu V. Bà Cà N không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu Đ đang sống chung với bà Cà N; cháu V đang sống chung với ông L . Tại biên bản ghi nhận nguyện vọng của cháu Đ và cháu V lập cùng ngày 10/5/2023 thì cháu Đ muốn sống chung với bà Cà N; cháu V muốn sống chung với ông L . Do vậy, để không xáo trộn cuộc sống của các cháu, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Cà N. Giao cháu Trần Phương Đ cho bà Cà N chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Trần Hùng V cho ông L chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Cà N không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà Cà N và ông L cùng với các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Trần Thị Cà N yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Cà N .
1.1. Về hôn nhân: bà Trần Thị Cà N được ly hôn với ông Trần Hùng L .
Giấy chứng nhận kết hôn số 21, ngày 21 tháng 8 năm 2006 của Ủy ban nhân dân xã M , huyện T , tỉnh A cấp cho bà Trần Thị Cà N và ông Trần Hùng L không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: bà Trần Thị Cà N và ông Trần Hùng L có 02 con chung tên Trần Phương Đ , sinh ngày 23/4/2007 và Trần Hùng V , sinh ngày 01/11/2008.
Giao cháu Trần Phương Đ cho bà Trần Thị Cà N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu Đ đang sống chung với bà Cà N). Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Giao cháu Trần Hùng V cho ông Trần Hùng L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu V đang sống chung với ông L ). Bà Cà N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Trần Thị Cà N và ông Trần Hùng L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
1.3. Về tài sản chung: không có.
1.4. Về nợ chung: ghi nhận bà Cà N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Trần Thị Cà N và ông Trần Hùng L vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Trần Thị Cà N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011641 ngày 27/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh A (bà Cà N đã nộp đủ).
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh A ; - VKSND huyện T ; - Chi cục THADS huyện T ; - Các đương sự (Để thi hành); - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn (để biết); - Lưu Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn H |