- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị H - Tòng Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Lò Thị H được ly hôn với A Tòng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 92/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15/9/2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tâm
2. Ông Nông Trung Kiên
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 Quyết định hoãn phiên tòa số: 64/2023/QĐST - HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị H - Sinh năm 1999; Nơi ĐKHKTT: Bản Y, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Chỗ ở hiện nay: Bản B, xã Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt);
2. Bị đơn: Anh Tòng Văn T - Sinh năm 1993; Địa chỉ: Bản Y, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2023 và trong quá trình giải quyết, xét xử nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn với nhau do 2 bên tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2019 tại UBND xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hạnh phúc được một thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vì vậy anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 5/2022 không còn đi lại và quan tâm gì đến nhau. Nay tình cảm của chị H đối với anh T không còn, nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là Tòng Quốc A - sinh ngày 17/7/2021. Hiện tại cháu A đang ở với chị H từ khi chị H ly thân. Chị H có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc cháu A cho đến khi cháu A đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động và không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Về thu nhập của chị H từ nghề bán quần áo thuê cho Cửa hàng V tại tổ dân phố 4, phường M, thành phố Đ mức thu nhập mỗi tháng được khoảng 8.000.000 đồng, hiện tại chị H có chỗ ở ổn định cho hai mẹ con, nên chị H đảm bảo có đủ khả năng về thời gian cũng như về điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu A.
- Về quan hệ tài sản và công nợ: Về tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của từng người, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Chị H khai không có.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và quá trình xét xử sơ thẩm vụ án.
* Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
+ Đối với nguyên đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70,71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án đã không gửi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các buổi làm việc khi được thông báo, triệu tập ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, vi phạm quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Tòng Quốc A - sinh ngày 17/7/2021 cho chị Lò Thị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản và công nợ: Về tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của từng người, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không có.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 chị Lò Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
* Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả hỏi tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của nguyên đơn tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Lò Thị H và anh Tòng Văn T, do anh T cư trú tại Bản Y, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Tòng Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng anh T vẫn không đến tham gia phiên tòa. Vì vậy, mà Tòa án đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 07/9/2023 theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự và ấn định mở phiên tòa vào ngày 15/9/2023, nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của anh T tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
*) Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện được pháp luật công nhận, chị H cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hạnh phúc được một thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi chửi nhau (được chứng minh tại Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên tại chính quyền địa phương ngày 10/8/2023 BL: 30). Mặt khác, trong đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa chị H khẳng định chị không còn tình cảm với anh T nữa nên anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 5/2022 cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Vì vậy, chị H tha thiết có nguyện vọng xin được ly hôn với anh T.
Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án anh T không trả lời thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không đến tham gia phiên hòa giải để trình bày quan điểm của mình, điều đó đã thể hiện anh T chưa thực sự có thiện chí đoàn tụ. Mặt khác, anh chị đã sống ly thân với nhau từ đầu tháng 5/2022 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Vì vậy, không có căn cứ để chứng minh rằng cuộc sống chung của chị H và anh T vẫn hòa thuận, hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị H được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
*) Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là Tòng Quốc A - sinh ngày 17/7/2021, hiện tại cháu A đang ở với chị H tại Bản B, xã Th, huyện Đ. Chị H có nguyện vọng được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc cháu A cho đến khi cháu A đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động, chị H không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án anh T không có ý kiến gì về việc nuôi con chung, nhưng xét về mặt thực tế hiện tại cháu A đang ở với chị H kể từ khi anh chị sống ly thân với nhau, còn anh T đi làm xa nhà thỉnh thoảng mới về nên không có điều kiện về thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu A (được thể hiện tại Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên tại chính quyền địa phương ngày 10/8/2023 BL: 30). Tại bản tự khai ngày 18/7/2023 và tại phiên tòa chị H khai thu nhập của chị từ nghề bán quần áo thuê cho Cửa hàng V tại tổ dân phố 4, phường M, thành phố Đ mức thu nhập mỗi tháng được khoảng 8.000.000 đồng, hiện tại chị H có chỗ ở ổn định cho hai mẹ con, nên chị H đảm bảo có đủ khả năng về thời gian cũng như về điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu A nên chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho cháu A, Tòa án cần giao cháu A cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu A là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về quan hệ tài sản và công nợ: Trong quá trình giải quyết vụ án chị H khai: Về tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của từng người, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không có. Vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
*) Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn chị Lò Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 56, 69, 70, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Về hôn nhân: Cho chị Lò Thị H được ly hôn với A Tòng Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung là Tòng Quốc A - sinh ngày 17/7/2021 cho chị Lò Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu A đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc đến khi có thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.
Anh T có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, các thành viên trong gia đình chị H không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh T.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về quan hệ tài sản và công nợ: Về tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của từng người, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không có.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nguyên đơn chị Lò Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền số: 0005268 ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự chị Lò Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/9/2023). Anh Tòng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Điện Biên; - UBND xã Sam Mứn, huyện ĐB; - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục Thi hành án DS huyện ĐB; - Toà án tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Tuyến |