- Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: ông Tạ Văn Đ, sinh năm 1957. Địa chỉ: thôn 9, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk"
- Tòa quyết gì? Chấp nh n kháng cáo của ông Tạ Văn Đ; sửa toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 113/2022/HC-ST ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2023/HC-PT Ngày: 31/3/2023 V/v “Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tấn Trường
Các Thẩm phán: ông Vũ Thanh Liêm
ông Trương Công Thi
- Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Quách Đức Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 351/2022/TLPT-HC ngày 07/12/2022 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội”, do Bản án hành chính sơ thẩm số 113/2022/HC-ST ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 961/2023/QĐPT-HC ngày 06/3/2023 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: ông Tạ Văn Đ, sinh năm 1957. Địa chỉ: thôn 9, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Tạ Văn S, sinh năm 1988. Địa chỉ: tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
Người bị kiện: Bảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Tạ Đức H – Phó Giám đốc, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH MTV Cà phê X.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Văn M – Kiểm soát viên. Địa chỉ: Thôn 4, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. có đơn đề nghị xử vắng mặt.
Người kháng cáo: ông Tạ Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án người khởi kiện ông Tạ Văn Đ trình bày:
Tôi là bộ đội t năm 1976 đến 1982 xuất ngũ, thời gian công tác trong quân đội là 05 năm 9 tháng. Năm 1995 tôi nh n khoán chăm sóc cà phê của nông trường cà phê X ký h p đ ng khoán đất chăm sóc cây lâu năm số 638/HĐ ngày 10/9/1996.
Năm 2003, tôi ký h p đ ng lao động số D 10-312 ngày 06/01/2003, về nội dung giống h p đ ng nh n khoán trong h p đ ng có xác định tôi tham gia bảo hiểm xã hội, mục đóng công nh n b c 1, hệ số 1,35. Tôi không nh n tiền lương mà chỉ hưởng sản lư ng cà phê còn dư sau khi nộp sản cho Công ty và nộp tiền đóng bảo hiểm xã hội theo mức đóng sản cho Công ty cà phê X.
Sau khi ký h p đ ng D 10-312 tôi làm đơn đóng bảo hiểm b sung thời gian t năm 1995-2002 và đư c Công ty cà phê X, Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh Đắk Lắk đ ng ý. Theo đó tôi đã đóng số tiền 5.037.200 đ ng, Công ty cà phê X đã l p danh sách điều chỉnh tăng giảm mức nộp bảo hiểm xã hội và nộp số tiền trên cho ảo hiểm xã hội tỉnh.
Năm 2012, tôi đã đủ tu i nghỉ hưu theo quy định ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào h sơ thu bảo hiểm đã xác nh n thời gian tôi đóng bảo hiểm xã hội là 23 năm 9 tháng, cấp s bảo hiểm xã hội và giải quyết cho tôi hưởng chế độ hưu trí theo Quyết định số 1717/QĐ- H H ngày 26/12/2012.
Năm 2020, ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk thanh tra, kết lu n việc tôi đóng bảo hiểm xã hội t năm 1995-2002 là không đúng quy định.
Ngày 20/5/2021, Bảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định chấm dứt hưởng chế độ hưu trí số 558/QĐ- H H đối v i tôi và yêu c u truy thu lại số tiền tôi đã hưởng trong thời gian qua.
Sau khi nh n Quyết định số 558/QĐ- H H, tôi đã làm đơn khiếu nại Quyết định trên gửi ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk v i nội dung Công ty cà phê X là doanh nghiệp nhà nư c có tính đặc th , tôi có ký H p đ ng nh n khoán v i Công ty. Và việc tôi đóng tiền bảo hiểm xã hội b sung t năm 1995-2002 là do Công ty cà phê X hư ng d n, đư c ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk đ ng ý, tiếp nh n nh p qu bảo hiểm xã hội và sử dụng số tiền t đó đến nay.
Theo Điều 6 Lu t bảo hiểm xã hội 2014 nội dung khuyến khích tạo điều kiện t chức cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội Điều 5 của lu t quy định mức hưởng bảo hiểm xã hội đư c tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Tôi là người lao động, thực tế đóng bảo hiểm xã hội đ y đủ, không gian l n trục l i th theo nguyên tắc trên tôi phải đư c hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, trách nhiệm trong việc này không thuộc về người lao động mà thuộc về Công ty cà phê X và ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk. ảo hiểm xã hội tỉnh ban hành Quyết định số 558/QĐ-BHXH đã không căn cứ vào thực tiễn cứng nhắc, phủ định lại Quyết định của ảo hiểm xã hội tỉnh thời điểm trư c đó không bảo vệ quyền l i cho người lao động.
Tuy nhiên, quá tr nh giải quyết đơn khiếu nại, ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk đã không chấp nh n và ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 162/QĐ- H H ngày 15/01/2021 bác b yêu c u của tôi và giữ nguyên nội dung Quyết định 558/QĐ-BHXH.
êu c u Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 558/QĐ-BHXH ngày 20/5/2021 của ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk về việc chấm dứt hưởng chế độ hưu trí của ông Tạ Văn Đ.
uộc ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk tiếp tục chi trả tiền lương hưu cho ông Tạ Văn Đ theo Quyết định số 1717/QĐ- H H ngày 26/12/2012 của H H tỉnh Đắk Lắk và chi trả lại toàn bộ số tiền lương hưu bị chấm dứt t tháng 7/2021 đến nay.
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Bảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk, ông Tạ Đức Hậu:
ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 1525/QĐ- H H ngày 21/8/2020 của Giám đốc ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk về việc kiểm tra chuyên đề việc truy thu cộng nối thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cà phê X, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. ết quả kiểm tra h sơ của ông Tạ Văn Đ như sau: ông Tạ Văn Đ, sinh ngày 20/11/1957, S số H H 63070033027.
Tháng 8/1976 đến tháng 4/1982, ông tham gia quân đội tại xã Plây u sau đó ông phục viên về địa phương. Có H p đ ng nh n khoán chăm sóc cây lâu năm số 638/HĐ ngày 10/9/1996 ký v i đơn vị.
hông có tên trong danh sách quản lý công nhân năm 1995 đến năm 2002. Chỉ có danh sách điều chỉnh tăng đóng bảo hiểm xã hội t năm 1995 đến năm 2002 ghi quý 02/2002, đơn vị ký ngày 13/10/2003.
Các năm 1995 đến năm 2002, do ông Đ không có tên trong danh sách công nh n thuộc chỉ tiêu biên chế của đơn vị nên đơn vị không không l p danh sách tham gia bảo hiểm xã hội t năm 1995 đến năm 2002 cho ông.
Năm 2003, ông m i ký H p đ ng lao động không xác định thời hạn số DW10-312 ngày 06/01/2003 v i đơn vị và tham gia H H t tháng 01/2003 cho đến tháng 12/2012. Tháng 01/2013, ông Tạ Văn Đ nghỉ hưu tại xã C.
Ngày 13/01/2003, đơn vị thực hiện l p danh sách điều chỉnh truy thu cộng nối thời gian tham gia bảo hiểm xã hội cho ông Đ t tháng 01/1995 đến tháng 12/2002.
Có phiếu thu tiền ngày 16/01/2003 của Công ty l p, trong b ng kê phiếu thu có giấy đề nghị của ông Phạm Thanh T, tr nh bày nội dung ông Tạ Văn Đ, ký h p đ ng t ngày 01/01/2003 v i đơn vị, có nguyên v ng xin đóng truy thu bảo hiểm xã hội 06 năm t năm 1997 đến năm 2002, có phê duyệt của Giám đốc nông trường Vương M. Như v y, đơn vị không tính tiền và không có phiếu thu tiền truy thu năm 1995 và năm 1996 của ông Đ nhưng s bảo hiểm xã hội để giải quyết chết độ hưu trí của ông Đ v n ghi toàn bộ thời gian truy thu cộng nối tham gia bảo hiểm xã hội t 01/01/1995 đến 31/12/2002. ng có phiếu thu tiền truy thu t năm 1997 đến năm 2002 cho đơn vị nhưng do đơn vị thực hiện chuyển tiền theo định k cho toàn bộ người lao động, không tách riêng số tiền truy đóng của ông mà chỉ đư c thể hiện vào mục đóng b sung trong b ng đối chiếu nộp bảo hiểm xã hội của t ng quý giữa đơn vị và ảo hiểm xã hội tỉnh.
Căn cứ theo quy định tại Quyết định số 722/2003/QĐ-BHXH- T ngày 26/5/2006 của ảo hiểm xã hội Việt Nam, ngày 27/11/2020 ảo hiểm xã hội tỉnh Đăk Lắk đã ban hành ết lu n số 2532/ L- H H về kiểm tra chuyên đề truy thu cộng nối thời gian tham gia H H tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cà phê X , theo đó, ảo hiểm xã hội tỉnh Đăk Lăk s điều chỉnh giảm thời gian truy bảo hiểm xã hội t tháng 01/1995 đến tháng 12/2002 không đúng và hoàn trả số tiền đã nộp của ông Tạ Văn Đ theo quy định.
Thực hiện ết lu n số 2532/ L- H H ngày 27/11/2020 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Đăk Lăk, sau khi điều chỉnh giảm thời gian truy thu bảo hiểm xã hội không đúng 01/1995 đến tháng 12/2002, th thời gian công tác và tham gia bảo hiểm xã hội của ông Tạ Văn Đ chỉ còn 15 năm 09 tháng, không đủ điều kiện để hưởng lương hưu nên cơ quan ảo hiểm xã hội tỉnh Đăk Lăk đã ban hành Quyết định số 558/QĐ- H H ngày 20/5/2021 về chấm dứt hưởng lương hưu và thu h i lương hưu đối v i ông Tạ Văn Đ kể t ngày 01/7/2021.
ng Tạ Văn Đ khởi kiện hành chính hủy b Quyết định 558/QĐ- H H ngày 20/5/2021 của Giám đốc H H tỉnh Đăk Lăk; uộc H H tỉnh Đăk Lăk tiếp tục chi trả lương hưu cho ông theo Quyết định số 1717/QĐ- H H ngày 26/12/2012 của Giám đốc H H tỉnh Đăk Lăk là quyền của người tham gia H H đư c quy định tại Điều 119 Lu t H H. Tuy nhiên, việc điều chỉnh giảm thời gian truy đóng H H không đúng và ban hành Quyết định 558/QĐ-H H ngày 20/5/2021 về chấm dứt hưởng lương hưu và thu h i lương hưu đối v i ông Tạ Văn Đ đã đư c H H tỉnh Đắk Lắk thực hiện đúng theo quy định pháp lu t.
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV Cà phê X trình bày:
ng Tạ Văn Đ trư c là bộ đội phục viên năm 1982. Đến năm 1995, ông bắt đ u nh n khoán tại Công ty Cà phê X. Đến tháng 01/2013, ông Tạ Văn Đ đư c nghỉ hưu tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá tr nh nh n khoán tại Công ty, ông Đ luôn chấp hành tốt m i nội quy, quy định của Công ty, giao nộp đ y đủ các khoản phải đóng hàng năm và không còn n bất k khoản nào.
Đến 21/8/2020, ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk có Công văn số 1525 về việc thành l p đoàn kiểm tra và xác minh kiểm tra nhiều l n, Đoàn H H tỉnh Đắk Lắk kết lu n việc đóng bảo hiểm của ông Tạ Văn Đ giai đoạn 1995-2002 là không đúng quy định và đã han hành Quyết định chấm dứt hưởng chế độ hưu trí số 558/QĐ- H H và yêu c u truy thu lại số tiền lương đã hưởng trong thời gian qua.
Sau khi nh n đư c Quyết định số 558/QĐ- H H ông Đ đã không nhất trí và khởi kiện để đảm bảo quyền l i của cá nhân.
Tại thời điểm ông Đ đóng bảo hiểm cộng nối giai đoạn 1995-2002, ông Đ đã nộp tiền đ y đủ cho Công ty và công ty đã chuyển tiền đ y đủ cho H H tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, do thời điểm đó việc l p và quản lý h sơ mang tính chất thủ công, máy móc còn hạn chế nên việc lưu trữ các phiếu thu, giấy tờ gặp nhiều khó khăn, hơn nữa do thời gian cũng đã quá lâu, người lao động đã nghỉ hưu nhiều năm nên việc cung cấp h sơ cho đoàn kiểm tra của H H còn chưa đ y đủ nên phản ánh chưa đ y đủ sự việc.
Ngoài ra, thời điểm số ngành bảo hiểm m i ra đời, các lu t và quy định còn chưa ph biến rộng rãi, việc đóng bảo hiểm cộng nối c n có những quy định r ràng để người lao động chấp hành theo quy định. Đối v i ông Tạ Văn Đ, khi Công ty nộp tiền bảo hiểm giai đoạn 1995-2002 lên H H tỉnh Đắk Lắk th H H tỉnh Đắk Lắk v n thu tiền đ y đủ và tính các năm đó. Tuy nhiên, H H tỉnh Đắk Lắk không thông báo ngay cho người lao động nội dung đóng bảo hiểm cộng nối là sai quy định và H H không thu số tiền mà người lao động đã đóng th s không phát sinh sự việc này.
Ý kiến của người làm chứng ông Lê Xuân L:
ng Tạ Văn Đ là người lao động của nông trường X nay là Công ty TNHH một thành viên cà phê X. Thời k ông là người nh n h p đ ng giao nh n khoán chăm sóc cà phê cho nông trường nhưng chưa tham gia H H bắt buộc. Đến khi đư c Nông trường ký h p đ ng lao động và tham gia H H, c ng lúc đó ông đư c Nông trường và H H tỉnh Đắk Lắk cho ông đóng H H b sung thời gian trư c đó số tiền đóng H H b sụng đư c Nông trường X và cơ quan BHXH tính toán ông đã nộp đ y đủ cho Nông trường để nông trường chuyển cho H H tỉnh. Thời gian công tác của ông đã đư c cơ quan H H tỉnh Đắk Lắk tính t ngày đóng bảo hiểm xã hội b sung và ông đã đủ thời gian công tác theo Lu t H H. ng đư c cơ quan H H tỉnh cho ông nghỉ hưu theo chế độ.
Đến tháng 7/2021, Cơ quan H H tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định cắt hưởng chế độ hưu trí và thu h i số tiền lương hưu mà ông đã nh n trư c đó. ng không đ ng ý v i Quyết định của H H, ông đã làm đơn đề nghị v i cơ quan H H tỉnh nhưng không đư c xem xét. ng Đ đã làm đơn khiếu kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk để đòi lại quyền l i chính đáng của m nh.
Tôi cho r ng việc này ông Đ yêu c u cơ quan H H hủy Quyết định chấm dứt chế độ hưu trí của ông và cho ông đư c hưởng tiếp t tháng 7/2021 đến nay và sau này là hoàn toàn h p pháp và chính đáng. V ông Đ là người lao động chân chính không vụ l i. Đư c Nông trường và cơ quan ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk hư ng d n l p h sơ để đư c đóng b sung thời gian nh n h p đ ng giao khoán chăm sóc cà phê cho Nông trường tiền đóng b sung ông đã nộp đ y đủ cho cơ quan H H tính thông qua nông trường X, v i mong muốn đư c nghỉ hưu tu i già. Nhưng cơ quan H H tính cắt thời gian đóng b sung là không thấu t nh đạt lý không chỉ ông Đ bức xúc mà nhiều công nhân của công ty hiện nay không tin tưởng vào việc đóng H H bắt buộc nên đã xin nghỉ việc để ra đóng H H tự nguyện, đã ảnh hưởng đến t nh h nh sản xuất kinh doanh của Công ty. Nên tôi đề nghị Tóa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử chấp nh n đơn khởi kiện chính đáng của người lao động.
Ý kiến của người làm chứng ông Phạm Thanh T:
T năm 1992, ông Tạ Văn Đ vào làm công nhân h p đ ng chăm sóc cà phê tại Đội 9 Nông trường cà phê X; nay là Công ty TNHH MTV Cà phê X.
Đến năm 2003, ông Đ đư c ký h p đ ng lao động dài hạn có tham gia BHXH, sau đó đư c Nông trường X l p danh sách truy thu nối thời gian t tháng 01/1995 đến tháng 12/2002 và đã đư c H H tỉnh Đắk Lắk chấp nh n (theo danh sách báo tăng năm 2002 . ng Tạ Văn Đ đã đư c cấp s H H ghi nh n quá tr nh công tác tham gia H H t tháng 01/1995 đến tháng 12/2012.
T tháng 01/2013, ông Tạ Văn Đ đư c nghỉ hưu sinh sống tại thôn 9, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Đến ngày 21/8/2020, cơ quan H H tỉnh Đăk Lắk có Công văn số 1525 về việc thành l p đoàn kiểm tra chuyên đề về việc truy thu cộng nối thời gian tham gia H H; theo đó có kết lu n trường h p ông Tạ Văn Đ đóng truy thu lại số tiền lương hưu của ông Đ đã l nh trong các năm t 2013 đến năm 2020. Sau khi nh n đư c Quyết định số 558/QĐ- H H ông Tạ Văn Đ đã không nhất trí và nộp đơn khởi kiện để đảm bảo quyền l i cá nhân m nh.
V i tư cách là người làm chứng; bản thân tôi nguyên trư c đây là cán bộ Phòng t chức hành chính Công ty TNHH MTV Cà phê X, tôi xin xác nh n ông Tạ Văn Đ đã đóng đ y đủ số tiền H H thời gian cộng nối t tháng 01/1995 đến tháng 12/2002 cho Công ty X và Công ty X đã chuyển đ y đủ số tiền theo danh sách báo tăng cho cơ quan H H tỉnh Đắk Lắk.
Về việc ông Tạ Văn Đ khiếu kiện để đòi h i quyền l i của bản thân là hoàn toàn h p pháp; bởi bản thân ông là người lao động, việc đư c tham gia H H là hoàn toàn chính đáng, nguyện v ng mong muốn đóng góp để đư c hưởng chế độ hưu trí lúc tu i già. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk chấp nh n đơn khởi kiện của ông Tạ Văn Đ.
Với nội dung trên tại Bản án hành chính sơ thẩm số 113/2022/HC-ST ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 3, 4 Điều 32; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 194 và khoản 1 Điều 206 của Lu t tố tụng hành chính; Điều 54, Điều 64 Lu t bảo hiểm xã hội năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: ác toàn bộ yêu c u khởi kiện của ông Tạ Văn Đ về việc: “Hủy Quyết định số 558/QĐ- H H ngày 20/5/2021 của ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk về việc chấm dứt hưởng chế độ hưu trí. uộc ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk tiếp tục thực hiện chi trả đ y đủ chế độ hưởng bảo hiểm đối v i ông Tạ Văn Đ t tháng 7/2021 đến nay .
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 03/10/2022, ông Tạ Văn Đ kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án theo hư ng chấp nh n yêu c u khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm: người kháng cáo ông Tạ Văn Đ v n giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị chấp nh n toàn bộ yêu c u khởi kiện như trong đơn của ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Hội đ ng xét xử phúc thẩm tiến hành đúng quy định; về tố tụng, án sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án hành chính đúng tr nh tự, thủ tục; về nội dung, án sơ thẩm xét xử không đúng quy định pháp lu t. Đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nh n kháng cáo của người khởi kiện; sửa bản án sơ thẩm, chấp nh n toàn bộ đơn khởi kiện của ông Đ.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự và của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: các đương sự đư c triệu t p h p lệ, tuy nhiên có nhiều đương sự vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, theo đề nghị của đương sự có mặt tại phiên tòa là người khởi kiện, người bị kiện và của iểm sát viên, Hội đ ng xét xử thấy đây là phiên tòa đư c triệu t p l n thứ hai, các đương sự đều nh n đư c Giấy triệu t p h p lệ, việc vắng mặt của các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt, nên thống nhất quyết định tiếp tục tiến hành phiên tòa.
Về nội dung:
ét về quá tr nh lao động và tham gia bảo hiểm xã hội của ông Tạ Văn Đ; Hội đ ng xét xử thấy r ng: năm 1982, ông Đ nh p ngũ, công tác tại 870, T ng kho 765, T ng Cục
thu t, đóng quân tại địa bàn tỉnh Gia Lai đến năm 1986, xuất ngũ về địa phương; năm 1992 đưa gia đ nh đi làm kinh tế m i tại huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 01/01/1996, ông Đ và Nông trường cà phê X ký kết H p đ ng khoán đất chăm sóc cây lâu năm số 638/HĐ (công nhân chăm sóc cây cà phê nhưng không đóng BHXH (BL 04). Ngày 01/01/2003, ông Đ ký H p đ ng lao động v i Công ty cà phê X (BL 05) là công nhân chính thức trong chỉ tiêu biên chế của công ty và đóng H H theo quy định. Sau đó bản thân ông Đ cũng như nhiều người khác có nguyện v ng đóng b sung BHXH thời gian làm công nhân nh n khoán nên đã đư c công ty c ng v i H H tỉnh Đắk Lắk xem xét, đ ng ý cho đóng b sung H H thời gian t năm 1995-2002 theo mức đóng mà Nông trường X tính toán là 5.037.200đ tương ứng v i thời gian là 08 năm; ông Đ đã đóng đ y đủ số tiền trên cho Nông trường và Nông trường đã nộp cho H H tỉnh Đắk Lắk đư c thể hiện tại số thứ tự 242 ảng danh sách lao động điều chỉnh tăng giảm mức nộp H H ngày 16/01/2003 (BL 06 ; kể t đó H H đã th a nh n việc tiếp nh n, nh p qu H H, sử dụng số tiền trên t đó cho đến nay trong toàn bộ quá tr nh thanh tra cũng như giải quyết khiếu nại.
Ngày 17/12/2012, ông Đ nghỉ việc theo Quyết định số 39/2012/QĐ-CT của Công ty cà phê X về việc nghỉ việc để hưởng chế độ hưu trí (BL 10). Theo h sơ hưởng chế độ hưu trí hiện H H tỉnh đang quản lý, thời gian tính hưởng H H của ông Đ là 23 năm 09 tháng. Ngày 26/12/2012, H H tỉnh Đăk Lăk đã ban hành Quyết định số 1717/QĐ- H H về việc hưởng chế độ hưu trí đối v i ông Đ t ngày 01/01/2013 v i số tiền là 2.045.358 đ ng (BL 09). Ngày 20/5/2021, H H tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 558/QĐ-BHXH về việc chấm dứt hưởng chế độ hưu trí đối v i ông Đ kể t ngày 01/7/2021 mức lương hưu 2.981.100 đ ng v i lý do quá tr nh thu, truy thu, ghi s H H, xác nh n s và giải quyết chế độ hưu trí không đúng quy định; đ ng thời thu h i số tiền đã chi trả cho ông Đ là 270.462.100 đ ng (BL 13).
ng Đ đã làm đơn khiếu nại yêu c u H H tỉnh hủy b Quyết định số 558 nhưng H H tỉnh không chấp nh n và ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại (l n đ u số 1162/QĐ-BHXH ngày 15/10/2021 (BL 16), sau đó là ông Đ làm đơn khởi kiện yêu c u TAND tỉnh Đắk Lắk hủy Quyết định số 558/QĐ-BHXH. Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 113/2022/HC-ST ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã bác đơn khởi kiện của ông Đ v i lý do ông Đ không thuộc đối tư ng truy thu đóng H H theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ; ngoài ra t năm 1995-2002 ông Đ v i Công ty cà phê X chỉ ký h p đ ng khoán đất chăm sóc cây lâu năm, mà theo quy định tại Bộ lu t lao động năm 1994 th “H p đ ng khoán không phải là “H p đ ng lao động .
ét kháng cáo của ông Tạ Văn Đ; Hội đ ng xét xử thấy r ng:
H p đ ng khoán đất chăm sóc cây cà phê số 638/HĐ ngày 01/01/1996 giữa ông Đ và Nông trường cà phê X, mặc d không có tên g i là h p đ ng lao động nhưng về bản chất v n là mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, có điều kiện lao động, quyền và ngh a vụ của các bên trong quan hệ lao động, v n có sự quản lý điều hành, giám sát của một bên (Nông trường cà phê X); điều đó thể hiện tại khoản 2 Điều 2 của H p đ ng. Vấn đề này ph h p v i quy định về h p đ ng lao động đư c quy định tại Điều 13 Bộ lu t lao động năm 2019; theo đó: 1. Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Theo quy định pháp lu t “H p đ ng giao khoán chỉ đư c áp dụng v i các công việc ngắn hạn, không mang tính chất thường xuyên, n định và chỉ phát sinh trong một khoảng thời gian nhất định, mang bản chất dịch vụ. Còn ở đây “H p đ ng khoán của ông Đ cũng như những người khác ký v i Công ty cà phê X mang tính chất n định, lâu dài, không mang tính dịch vụ và có thời hạn là 50 năm, nên về bản chất không phải là “h p đ ng giao khoán . Mặc d trong giai đoạn t 01/1995 đến 12/2002, ông Đ không phải là công nhân trong chỉ tiêu biên chế của Nông trường nhưng v n là người lao động thực hiện công việc chăm sóc cây cà phê dư i h nh thức h p đ ng khoán. Tại phiên toà hôm nay người khởi kiện cung cấp Công văn số 96/CV-CT ngày 24/11/2020 của Công ty cà phê X có nội dung việc giao khoán vườn cây cà phê cho người lao động là sự thay đ i trong cơ chế làm việc của Nông trường t năm 1991 trở đi. Như v y, mặc d không có tên trong danh sách công nhân thuộc chỉ tiêu biên chế nhưng ông Đ v n là người lao động của công ty. Ngoài ra, theo nội dung H p đ ng lao động năm 2003 ký ngày 01/01/2003 giữa Nông trường cà phê X v i ông Đ (BL 05) mà theo quan điểm của H H tỉnh, thời điểm này ông Đ m i là công nhân thuộc biên chế chính thức và thuộc đối tư ng đóng H H bắt buộc th tại Điều 1 có ghi “công việc phải làm: theo Hợp đồng khoán”. Tức là h p đ ng khoán số 638/HĐ ngày 01/01/1996 có thời hạn 50 năm giữa ông Đ v i Nông trường cà phê X. Mặt khác trong quá tr nh giải quyết t khiếu nại đến khởi kiện, Nông trường cà phê X đều xác nh n ông Đ là công nhân chăm sóc cây cà phê của Nông trường, điều này cũng đư c H H xác nh n trong s H H của ông Đ cũng như quá tr nh giải quyết vụ án; nên thuộc đối tư ng đư c đóng H H theo Điều 3 Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ: “Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước”…;
Tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995 có quy định: “ Bên giao khoán phải thực hiện các chính sách về đầu tư, hỗ trợ, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật”. Như v y, Nông trường cà phê X có trách nhiệm thực hiện H H cho người nh n khoán. Tuy nhiên tại thời điểm này chưa có hư ng d n cụ thể (theo phương thức làm công ăn lương th người lao động đóng 05%, người sử dụng lao động đóng 15% tiền BHXH) nên Nông trường X đã không thực hiện, còn người lao động không biết d n đến việc không đóng H H t năm 1995 (thời điểm ban hành Nghị định ; Chính v v y, khi có hư ng d n của Nông trường (theo hư ng d n của T ng công ty cà phê Việt Nam, t năm 2001 người lao động đóng toàn bộ tiền H H tức 20% , ông Đ đã có đơn xin đóng b sung H H thời gian chưa đóng t năm 1995 và đư c Nông trường X cũng như H H tỉnh đ ng ý; ông Đ đã nộp đủ số tiền theo mức tính đóng của Nông trường là 5.037.200 đ ng. Nông trường đã đóng số tiền trên cho H H tỉnh Đắk Lắk thể hiện tại ảng danh sách lao động điều chính tăng giảm mức nộp tiền H H ngày 13/01/2003 có xác nh n của H H tỉnh Đắk Lắk.
Mặt khác, theo Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đ i, b sung một số điều của Điều lệ ảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 cũng đã đề c p đến vấn đề đóng H H đối v i người lao động làm việc tại các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp đã thực hiện giao khoán đất quy định tại Điều 1 . Do v y, việc ông Đ tuy ký H p đ ng giao khoán đất nhưng có đóng bảo hiểm xã hội là đúng theo quy định của pháp lu t.
Tại thời điểm năm 2003, bảo hiểm chưa có h nh thức H H tự nguyện, cũng như chưa có hư ng d n nào liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên, ông Đ đã đóng toàn bộ 20% số tiền H H b sung t năm 1995 đến năm 2002, mức đóng này giống như loại bảo hiểm tự nguyện hiện nay và việc đóng này ph h p v i Nghị định số 01/1995, Nghị định số 01/2003 của Chính phủ và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Lu t H H năm 2014 đư c cụ thể tại Điều 12 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP; Điều 12 quy định: Thời điểm đóng: “3. Quá thời gian đóng BHXH theo quy định tại khoản 1 Điều này mà người tham gia BHXH tự nguyện không đóng BHXH thì được coi là tạm dừng đóng BHXH tự nguyện. Người đang tạm dừng đóng BHXH tự nguyên, nếu tiếp tục đóng thì phải đăng ký lại phương thức đóng, mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH với cơ quan BHXH. Trường hợp có nguyện vọng đóng bù cho số tháng chậm đóng thì số tiền đóng bù được tính bằng tổng mức đóng của các tháng chậm đóng”. H H tỉnh Đắk Lắk đã tiếp nh n, nh p qu H H và sử dụng; v v y theo nguyên tắc có l i cho người lao động, nhất là hiện nay Đảng và nhà nư c đang khuyến khích, động viên người lao động tham gia H H để đảm bảo an sinh xã hội khi hết tu i lao động, th H H tỉnh Đắk Lắk phải v n dụng linh hoạt, tôn tr ng quan điểm lịch sử, đảm bảo quyền l i của người lao động, tiếp tục thực hiện chế độ hưu trí đối v i ông Đ m i ph h p v i tôn chỉ, trách nhiệm của H H. Ngoài ra, ông Đ không có gian l n, giả mạo, trốn đóng hay các hành vi bị nghiêm cấm khác để trục l i H H th không thuộc trường h p bị chấm dứt hưởng chế độ hưu trí. ng Đ tham gia H H đ y đủ, theo đúng quy định th phải đư c hưởng chế độ H H tương xứng, đây là nguyên tắc của H H quy định tại Điều 5 Lu t H H năm 2014.
Việc H H tỉnh Đăk Lăk cho r ng việc truy thu, cộng nối H H của ông Đ không đúng nên đã ban hành Quyết định số 558/QĐ- H H ngày 20/5/2021, để chấm dứt hưởng chế độ hưu trí của ông Đ, không công nh n thời gian ông Đ tham gia H H là 08 năm; nhưng không giải quyết đối v i số tiền mà H H đã thu, không giải quyết chế độ cho người lao động đối v i thời gian tham gia H H mà H H cho r ng không đúng làm ảnh hưởng đến quyền l i của người lao động. Theo quy định tại Điều 45 Nghị định số 12/CP năm 1995 cũng như quy định tại khoản 7 Điều 18; khoản 6 Điều 23 Lu t H H 2014 quy định về quyền của người lao động và trách nhiệm của cơ quan H H; theo đó: “Định kỳ 06 tháng được người sử dụng lao động cung cấp thông tin về đóng BHXH, định kỳ hàng năm được cơ quan BHXH xác nhận về việc đóng BHXH, được yêu cầu người sử dụng lao động, cơ quan BHXH cung cấp thông tin về việc đỏng, hưởng BHXH”. “Hằng năm, xác nhận thời gian đóng BHXH cho từng lao động, cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện BHXH khi người lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu”.
Trường h p của ông Đ đã đóng H H t năm 2002 nhưng t khi đóng đến năm 2020 cơ quan H H không có ý kiến g về việc đóng, hưởng H H của ông Đ; đến năm 2021 m i cho r ng việc đóng H H của ông Đ là không đúng. Việc ông Đ đóng H H là có th t và đã đư c Nông trường cà phê X, H H tỉnh Đắk Lắk th a nh n trong toàn bộ quá tr nh giải quyết t thanh tra, khiếu nại đến khởi kiện tại Tòa án. H H tỉnh Đăk Lăk cho r ng việc ông Đ đóng H H là không đúng nhưng cả một thời gian dài t i 20 năm, H H không phát hiện, xử lý kịp thời, đến nay m i chuyển trả số tiền ông Đ đã đóng cách đây 20 năm là không đúng pháp lu t. V trư c đó cơ quan H H xác định việc ông Đ và nhiều người khác đóng cộng nối H H thời gian làm công nhân nh n khoán là đúng quy định.
T phân tích và nh n định trên đây; Hội đ ng xét xử thấy r ng: cơ quan H H tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 558/QĐ- H H ngày 20/5/2021, về việc chấm dứt hưởng chế độ hưu trí đối v i ông Tạ Văn Đ và thu h i số tiền 270.462.100 đ ng để nộp vào qu H H là xâm hại nghiêm tr ng đến quyền và l i ích h p pháp của ông Đ. Do đó, có đủ căn cứ chấp nh n yêu c u kháng cáo; sửa án sơ thẩm, chấp nh n yêu c u khởi kiện của ông Tr n Văn Đ như đề nghị của đại diện V SND cấp cao tại Đà Nẵng là có căn cứ.
Về án phí sơ thẩm: ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: ông Tạ Văn Đ không phải chịu án phí phúc thẩm.
V các l trên;
Căn cứ khoản 2 Điều 241 của Lu t tố tụng hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nh n kháng cáo của ông Tạ Văn Đ; sửa toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 113/2022/HC-ST ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Lu t tố tụng hành chính; Điều 54 Lu t ảo hiểm xã hội năm 2014; các Điều 36, 37 Điều lệ ảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ, về việc ban hành Điều lệ ảo hiểm xã hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nh n toàn bộ yêu c u khởi kiện của ông Tạ Văn Đ.
- Hủy Quyết định số 558/QĐ- H H ngày 20/5/2021của ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk về việc chấm dứt hưởng chế độ hưu trí đối v i ông Tạ Văn Đ.
- uộc ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk tiếp tục thực hiện chi trả đ y đủ chế độ hưởng bảo hiểm đối v i ông Tạ Văn Đ theo quy định.
2. Về án phí:
ảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk phải chịu 300.000 đ ng án phí hành chính sơ thẩm.
ng Tạ văn Đ không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
ản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án (31/3/2023).
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc kiểm tra III – TANDTC; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Cục THA dân sự tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu Văn phòng, h sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn Trường |