vanban.org

Bản án 92/2023/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Kim Nhật. Giữ nguyên bản án sơ thẩm xử. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam kiện Hồ Kim Nhật"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 92/2023/DS-PT
Ngày: 03/03/2023
V/v “Tranh chấp HĐ tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hoàng Tấn

Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 389/2022/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp HĐ tín dụng”.

1/ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam.

Địa chỉ trụ sở: Tầng 1, tầng 6 và tầng 7 tòa nhà Corner Stone số 16 đường Phan Chu Trinh, phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Văn Duy, ông Phan Minh Dũng, ông Nguyễn Tuấn Thanh.

Địa chỉ: Tầng 6, tòa nhà Pax Sky, sổ 26 Ung Văn Khiêm, Phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; (Giấy ủy quyền ngày 10 tháng 3 năm 2021)

2/ Bị đơn:

2.1/ Ông Hồ Kim Nhật, sinh năm 1979

2.2/ Bà Trương Thị Thúy Anh,

Cùng địa chỉ: số 85/935 đường Lê Đức Thọ, Phường 6, quận Gò vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hồ Xuân Hương, sinh năm 1970; (Hợp đồng ủy quyền ngày 01/12/2020).

3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1/ Bà Hồ Thị Kim Ngọc.

Địa chỉ: 229 Broad st San Francisco CA 94112.USA.

3.2/ Ông Nguyễn Hùng Dũng (Tên khác Dominic Hung Nguyen).

Địa chỉ: 726 Burrows Street San Francisco CA 94134, USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam có người đại diện theo ủy quyền — ông Lý Xuân Thiện trình bày:

Ông Hồ Kim Nhật và bà Trương Thị Thúy Anh đã ký với Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Sài Gòn - PGD 3 tháng 2 Hợp đồng tín dụng số 0095/HĐTD1-VIB664/12 ngày 16/7/2012 vay số tiền 300.000.000 đồng; Mục đích vay tiêu dùng; Thời hạn vay 60 tháng (ngày trả nợ cuối cùng 17/7/2017). Lãi suất vay 16,3% /năm và được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, bằng lãi suất điều chuyển vốn kinh doanh VNĐ kỳ hạn 3 tháng của VIB 4- biên độ 4,3%/năm và chịu sự điều chỉnh theo chính sách lãi suất của Ngân hàng tại từng thời kỳ, phù hợp với quy định của NHNN và pháp luật. Ngày 17/7/2012, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nhật và bà Anh theo Khế ước nhận nợ số 0095/KƯNN1-VIB664/12 với số tiền 300.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nhật và bà Anh vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh, không thực hiện việc trả nợ gốc, lãi đúng cam kết. Do đó, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc của khách hàng sang nợ quá hạn từ ngày 18/11/2013.

Tính đến ngày 15/11/2021, ông Nhật và bà Anh còn nợ Ngân hàng số tiền 527.400.457 đồng, trong đó: Nợ gốc: 0 đồng; Nợ lãi trong hạn: 1.040.827 đồng; Nợ lãi quá hạn: 526.359.630 đồng.

Tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay là: Nhà và đất ở tại địa chỉ số 38/25 đường số 29, Phường 6, quận Gò vấp, TP.HCM theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 346557, số vào sổ cấp GCN: CH 01358 do UBND quận Gò Vấp cấp ngày 04/5/2012 cho bà Hồ Thị Kim Ngọc là chủ sở hữu hợp pháp. Tài sản trên đã được thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số 0095/HĐTC-VIB664/12 ngày 16/7/2012; được công chứng tại Phòng công chứng số 5 Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 24773, quyển số 07. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ Kim Nhật và bà Trương Thị Thúy Anh trả ngay cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền tính đến ngày 15/11/2021 là 527.400.457 đồng, trong đó: Nợ gốc: 0 đồng; Nợ lãi trong hạn: 1.040.827 đồng; Nợ lãi quá hạn: 526.359.630 đồng. Và tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn tiếp theo cho đến khi ông Nhật và bà Anh thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Ngoài ra, ông Nhật và bà Anh còn phải chịu các chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, cụ thể: chi phí ủy thác tư pháp, dịch thuật công chứng: 380 USD tương đương 8.606.620 đồng và 22.800.000 đồng; chi phí xem xét thẩrn định tại chỗ 5.000.000 đồng, tổng cộng 36.406.620 đồng.

Trong trường hợp ông Nhật và bà Anh không trả nợ hoặc trả không hết nợ thì Ngân hàng được quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ số 38/25 đường số 29, Phường 6, quận Gò Vấp, TP.HCM theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 346557, số vào sổ cấp GCN: CH 01358 do UBND quận Gò Vấp cấp ngày 04/5/2012 cho bà Hồ Thị Kim Ngọc, toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Hồ Kim Nhật và bà Trương Thị Thúy Anh có người đại diện theo ủy quyền - ông Hồ Xuân Hương trình bày:

Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng số 0095/HĐTD1-VIB664/12 ngày 16/7/2012 thể hiện vợ chồng ông Nhật, bà Anh có vay của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam với số tiền 300.000,000 đồng. Đây là khoản nợ chung của vợ chồng ông Nhật, bà Anh với vợ chồng người em là Hồ Thị Kim Ngọc và Nguyễn Hùng Dũng. Vào thời điểm vay, vợ chồng bà Ngọc ở nước ngoài, để thuận tiện vợ chồng ông Nhật, bà Anh đứng tên trên khoản vay nhưng bà Ngọc có về làm thủ tục thế chấp căn nhà. Quá trình thực hiện hợp đồng vay, vợ chồng bà Ngọc có gửi tiền về để trả nhưng sau đó do khó khăn nên không gửi tiền về trả nữa. Tài sản thế chấp là của vợ chồng bà Ngọc, hiện nay vợ chồng ông Nhật bà Anh cùng 02 con nhỏ đang ở tại căn nhà nầy.

Nay phía ông Nhật, bà Anh có ý kiến như sau: ông Nhật, bà Anh thống nhất xác nhận số tiền nợ theo yêu cầu của Ngân hàng tính đến nay là 527.400.457 đồng. Ông Nhật, bà Anh chỉ có khả năng trả cho Ngân hàng 250.000.000 đồng, thời hạn trả trong vòng 6 tháng; Phần tiền còn lại, ông Nhật, bà Anh mong Ngân hàng xem xét giảm, bởi lẽ hiện nay hoàn cảnh ông Nhật, bà Anh rất khó khăn không thể trả hết số tiền nợ 527.400.457 đồng theo yêu cầu của Ngân hàng được.

Về chi phí tố tụng, bị đơn đồng ý chịu các khoản chi phí tố tụng như nguyên đơn yêu cầu.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 1124/2021/DS-ST ngày 15/11/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 37; các Điều 227, 228, 273, 280, 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 317, 318, 322, 323 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016; Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam.

1/ Buộc bị đơn ông Hồ Kim Nhật và bà Trương Thị Thúy Anh có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền 527.400.457 đồng (Trong đó nợ lãi trong hạn 1.040.827 đồng, nợ lãi quá hạn 526.359.630 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam trả lại giấy tờ gốc về tài sản thế chấp cho bên thế chấp sau khi bên vay đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ số 38/25 đường số 29, Phường 6, quận Gò vấp, TP.HCM theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 346557, số vào sổ cấp GCN: CH 01358 do UBND quận Gò Vấp cấp ngày 04/5/2012 cho bà Hồ Thị Kim Ngọc. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.

- Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Hồ Kim Nhật kháng cáo không đồng với án sơ thẩm xử buộc ông phải trả cho ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam số tiền 527.400.457 đồng (bao gồm: tiền lãi trong hạn 1.040.827 đồng và tiền lại quá hạn 526.359.630 đồng). Ông Nhật kháng cáo yêu cầu xem xét lại. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hồ Xuân Hương đại diện cho ông Nhật xác định kháng cáo là xin xem xét giảm phần tiền lãi mà ngân hàng đã tính nêu trên.

- Tại tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam cho rằng mình chỉ đại diện tham gia tố tụng nên không có quyền quyết định việc giảm tiền lãi cho ông Nhật, trong quá trình thi hành án thì Nhân hàng sẽ xem xét giải quyết theo quy định của Ngân hàng, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đơn kháng cáo của ông Hồ Kim Nhật được làm và nộp trong thời hạn luật định nên đây là kháng cáo hợp lệ.

Xét về nội dung vụ án thì thấy:

- Theo đơn khởi kiện của ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam cho rằng theo hợp đồng tín dụng số 0095/HD9TD1-VIB 664/12 ngày 16/7/2012 thì Ngân hàng cho ông Hồ Kim Nhật và bà Trương Thị Thúy Anh vay số tiền 300.000.000 đồng, đến thời điểm năm 2018 (khi ngân hàng khởi kiện) thì ông Nhật bà Anh mới trả được 75.000.000 đồng, đến ngày xét xử sơ thẩm 15/11/2021 thì ông Nhật bà Anh trả hết nợ gốc 300.000.000 đồng; Còn nợ lãi đến ngày 18/11/2013 thì ngân hàng chuyển nợ gốc qua lãi quá hạn (tiền lãi trong hạn còn nợ là 1.040.827 đồng; tiền lãi quá hạn là 526.359.630 đồng). Ngân hàng yêu cầu ông Nhật, bà Anh phải trả hai khoản tiền lãi trên tổng cộng bằng 527.400.457 đồng.

- Tại phiên tòa sơ thẩm thì ông Nhật bà Anh xin ngân hàng giảm tiền lãi, chỉ đồng ý trả lãi cho ngân hàng 250.000.000 đồng, và xin trả trong thời hạn 06 tháng.

- HĐXX xét thấy: do phía bị đơn ông Hồ Kim Nhật, bà Trương Thị Thúy Anh vay nợ tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam theo hợp đồng tín dụng như trên vay số tiền 300.000.000 đồng; Ông Nhật bà Anh trả nợ gốc và lãi được 17 kỳ, từ kỳ thứ 18 trở về sau thì ngưng, không thực hiện trả nợ gốc và lãi đúng theo hợp đồng. Theo bảng kê của Ngân hàng tính lãi quá hạn từ ngày 18/11/2013 cho đến khi trả hết nợ gốc vào năm 2021 thì ông Nhật bà Anh còn nợ tiền lãi trong hạn là 1.040.827 đồng, tiền lãi quá hạn là 526.359.630 đồng như trên là có căn cứ. Ông Nhật bà Anh xin ngân hàng xem xét giảm tiền lãi nhưng ngân hàng không đồng ý, nên không có cơ sở để xem xét theo kháng cáo của ông Hồ Kim Nhật.

- Chấp nhận theo quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Kim Nhật, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Kim Nhật.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

[2] p dụng khoản 3 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 37; các Điều 227, 228, 273, 280, 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 317, 318, 322, 323 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016; Luật Thi hành án Dân sự;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam.

Buộc bị đơn ông Hồ Kim Nhật và bà Trương Thị Thúy Anh có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam số tiền 527.400.457 đồng (Bao gồm: nợ lãi trong hạn 1.040.827 đồng, nợ lãi quá hạn 526.359.630 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] - Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm đã xét xử không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

- Ông Hồ Kim Nhật phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ông Hồ Kim Nhật đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001345 ngày 09/12/2021 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, số tiền này được chuyển qua thi hành phần án phí phải nộp

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03/3/2023.

Cỡ chữ