vanban.org

Bản án 92/2022/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 24/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo c a các ị cáo Phạm N, Phạm N1 và kháng

cáo c a người ị hại ông Trần Đ, đại diện hợp pháp cho người ị hại à Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên ản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Tuyên ố ị cáo Phạm N phạm tội “Giết người”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm N, Phạm N1 - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo c a các ị cáo Phạm N, Phạm N1 và kháng
  • Căn cứ chính? Điều 356 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2022/HSPT
Ngày: 24/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Tồn

Các Thẩm phán:

Ông Trương Minh Tuấn

Bà Lê Thúy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Đỗ Xuân Ân, Kiểm sát viên.

Vào ngày 24 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng

Ngãi, mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 48/2022/TLPT-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022 đối v i các ị cáo Phạm N, Phạm N1 về tội “Giết người”, “Cố ý gây thương tích”. Do c kháng cáo c a các ị cáo Phạm N, Phạm N1; người đại diện hợp pháp c a ị hại Trần T: Bà Nguyễn Thị T1; ị hại ông Trần Đ đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1257/2022/QĐXXPT-HS ngày 08 tháng 3 năm 2022.

Bị cáo:

1. Phạm N, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1992 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư

trú: Thôn X, xã T2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Làm iển; trình độ văn h a: 09/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm N1 và à Lê Thị Kim C; ị cáo chưa c vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; ị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/05/2019 đến nay. Bị cáo c mặt tại phiên tòa.

2. Phạm N1, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1968 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư

trú: Thôn X, xã T2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Làm iển; trình độ văn h a: 02/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm T3 (chết) và à Võ Thị L (chết); ị cáo c vợ tên Lê Thị Kim C và c 5 con chung, l n nhất 33 tuổi, nhỏ nhất 21 tuổi; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ị tạm giữ từ ngày 27/5/2019 đến ngày 05/6/2019, được thay thế iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay. Bị cáo c mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Phạm N: Luật sư Nguyễn Ngọc

L1 - Văn phòng luật sư C1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ngãi. Địa chỉ: Số 44 Đường L2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; c mặt.

- Bị hại:

1. Anh Trần T; sinh năm 1985 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần T:

+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988 (là vợ ị hại). Địa chỉ: Thôn Đ1, xã

T2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; c mặt.

Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T1: Bà Trần Thị D; c mặt.

+ Ông Trần Đ và à Nguyễn Thị S (là cha mẹ đẻ ị hại). Cùng địa chỉ:

Thôn X, xã T2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; c mặt.

2. Ông Trần Đ, sinh năm 1956. Địa chỉ: Thôn X, xã T2, thành phố Q, tỉnh

Quảng Ngãi; c mặt.

- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Đ và người đại diện

hợp pháp của bị hại Trần T:

+ Luật sư Huỳnh Ngọc A, Văn phòng luật sư Q1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh

Quảng Ngãi. Địa chỉ: 943 đường Q2, phường C2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; c mặt.

+ Luật sư Trương Văn B, Luật sư Nguyễn Xuân T3 - Công ty Luật T4,

thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng. Cùng địa chỉ: Số 324, Đường Y, quận H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cháu Trần Th y Kiều A1, sinh năm 2012 và cháu Trần Minh Q3, sinh

năm 2016, c à Nguyễn Thị T1 (mẹ ruột) là đại diện hợp pháp. Cùng địa chỉ: Thôn Đ1, xã T2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1964;

3. Anh Phạm D1, sinh năm 1989;

Cùng địa chỉ: Thôn X, xã T2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; c mặt

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1960; c mặt.

2. Anh Nguyễn Đức D2, sinh năm 1988; vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1992; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn X, xã T2, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được t m tắt như sau:

Phạm N1 và Trần Đ là hàng x m láng giềng, cùng làm nghề đánh ắt hải

sản v i nhau. Sáng ngày 26/5/2019, khi đi ngang qua nhà ông Đ, N1 gặp và r ông Đ “c rảnh không đi lượm lư i”, ông Đ trả lời “muốn iểu hồi nào iểu”, nghe vậy thì N1 nghĩ là ông Đ không đồng ý cùng đi. Đến khoảng 20 giờ ngày 26/5/2019, sau khi cùng ông Trần C1 (sinh năm: 1971 ở gần nhà) uống hết 01 lít rượu trắng tại chòi canh hồ nuôi tôm c a ông C1 thì N1 đi về nhà. Về đến nhà, N1 nh lại việc ông Đ không đồng ý đi thu lượm lư i đánh cá v i mình nên ực tức đi đến nhà c a ông Đ để hỏi lý do. Ông Trần Đ đang ở nhà cùng v i vợ là à Nguyễn Thị S và con trai là anh Trần T, N1 đến chửi i l n tiếng. Thấy N1 đã say xỉn nên ông Đ đẩy N1 ra cổng, yêu cầu đi về nhưng N1 không chịu về mà tiếp tục la chửi. Thấy vậy, anh T cũng đi ra n i N1 đi về. Lúc này, hai con c a N1 là Phạm D1 và Phạm N đang ở nhà nghe tiếng cãi nhau và iết N1 đã uống rượu say nên vội đến nhằm mục đích gọi N1 về. Thấy D1 đến, ông Đ và anh T n i đưa N1 về nhưng N1 không chịu về mà tiếp tục chửi l n tiếng nên xảy ra giằng co, xô đẩy, đánh nhau. Anh T dùng tay đánh một cái trúng vào vùng mặt ên trái c a D1, D1 đánh lại nhưng không trúng; N1 và ông Đ trong lúc giằng co ị ngã xuống đường trư c cổng. N đến sau, thấy đánh nhau thì cũng xông vào dùng tay đánh trúng mặt anh T 02 cái và giật cổng ngõ nhà ông Đ. Bị đánh nên anh T dùng tay đánh lại trúng mặt ên phải c a N gây trầy xư c da. Sau đ hai ên chấm dứt việc đánh nhau.

Ông Trần Đ và anh Trần T đi vào trong sân nhà đứng; Phạm N1 đi dọc theo

đường sát tường rào nhà ông Đ, còn Phạm D1 và Phạm N đi đến khu vực cổng nhà à Đỗ Thị V (gần nhà ông Đ) thì cho rằng một vật được ném ra từ trong sân nhà ông Đ nhưng vì trời tối nên không xác định được vật gì, do người nào ném. Tuy xác định vật ném ra không trúng ai nhưng N nghĩ đ là vỏ chai ia do ông Đ ném cha mình nên ực tức chạy đến đống gạch đất nung, loại gạch 06 lỗ trong sân nhà à V lấy 02 viên gạch, mỗi tay cầm một viên chạy ra hư ng cổng nhà à V thì nhìn thấy anh T đang đứng trong sân nhà ông Đ, mặt anh T nhìn về hư ng sân nhà à V, phần cơ thế từ vùng ngực trở xuống ị ức tường rào ằng xi măng nhà ông Đ che lấp. N đứng cách anh T khoảng 4,15mét – 06 mét dùng tay phải cầm một viên gạch nhắm vào vùng mặt c a anh T ném mạnh, viên gạch trúng mặt anh T làm anh T ị “vỡ xương gò má phải” và ngã ngửa, đầu đập xuống nền sân xi măng gây “chấn thương sọ não, rạn nứt xương hộp sọ, xuất huyết não, tụ máu ở hai án cầu đại não và vùng chẩm”. Thấy anh T ị trúng gạch nằm dư i nền sân xi măng, N chuyển tiếp viên gạch còn lại từ tay trái sang tay phải, ném mạnh vào nhà c a ông Đ nhưng không trúng ai rồi chạy đến đống gạch lấy thêm một viên định ném tiếp nhưng ị anh Nguyễn Đức D2 (con c a à V) phát hiện, chạy đến can ngăn, giật lấy được viên gạch từ tay ị can N. Lúc này, mẹ c a anh T là à Nguyễn Thị S phát hiện sự việc, la lên “Chết, chết, thằng T chết rồi”. Nghe tiếng à S và thấy anh T nằm ất động nên ông Đ tức giận chạy vào nhà lấy 02 vỏ chai ia Dung Quất, loại chai 330ml cầm chạy đến sát tường rào. Phát hiện Phạm N1 đứng gần tường rào, ông Đ cầm mỗi tay mỗi vỏ chai ia chờm ra ngoài tường rào nhằm mục đích đánh N1 nhưng ị N1 giật lấy được 01 vỏ chai ia từ tay ông Đ, vỏ chai ia còn lại ị rơi phía ên ngoài tường rào. N1 dùng tay trái cầm vỏ chai ia chờm qua tường rào đánh một cái trúng vào thái dương ên trái c a ông Đ, gây thương tích 02% và làm ông Đ ngã nằm xuống nền sân nhà. Lúc này, Phạm D1 lấy một viên gạch trong sân nhà à V chạy ra đường ê tông thì chỉ còn thấy Phạm N1 đứng gần tường rào nên D1 ném thẳng viên gạch vào nhà ông Đ rồi cùng N1 ỏ đi về. Anh Trần T được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi sau đ chuyển đến Bệnh viện Đà Nẵng lúc 11 giờ 50 phút, ngày 27/5/2019 thì anh T chết.

Tại B n án h nh s sơ thẩm s

H - T ngày

c a Tòa án nhân dân t nh u ng Ng i đ quy t định:

1. Tuyên ố ị cáo Phạm N phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; Điểm , s, q khoản 1, khoản 2 Điều

51, Điều 38 c a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, ổ sung năm 2017.

Xử phạt ị cáo Phạm N 14 (mười ốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tù được tính từ ngày ị ắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/05/2019.

2. Tuyên ố ị cáo Phạm N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm , s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38 c a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, ổ sung năm 2017.

Xử phạt ị cáo Phạm N1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù

tính từ ngày ị ắt đi thi hành án, trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/5/2019 đến ngày 05/6/2019.

Ngoài ra, ản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí,

quyền kháng cáo, thi hành án.

Ngày 29/12/2021, ị cáo Phạm N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm

xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 02/01/2022, ị cáo Phạm N1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc

thẩm h y ản án sơ thẩm để xét xử lại cho đúng sự thật khách quan.

Ngày 03/01/2022, người đại diện hợp pháp c a ị hại Trần T: Bà Nguyễn

Thị T1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm h y ản án sơ thẩm vì đây là vụ án c tổ chức do Phạm N1 là người tổ chức; Phạm D1, Phạm N chỉ là đồng phạm.

Ngày 04/01/2022, ị hại Trần Đ kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm

h y ản án sơ thẩm để điều tra làm rõ hành vi đồng phạm c a Phạm D1 và tăng hình phạt đối v i Phạm N1.

Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm N giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt. Bị cáo Phạm Nhị giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét lại toàn diện vụ án và sự thật khách quan. Đại diện hợp pháp cho người ị hại là à Nguyễn Thị T1 và người ị hại ông Trần Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm h y Bản án sơ thẩm để xem xét hành vi phạm tội c tổ chức c a ị cáo Phạm N1 và vai trò đồng phạm c a Phạm D1 trong vụ án, đồng thời tăng hình phạt đối v i ị cáo Phạm N1.

Người ào chữa cho ị cáo Phạm N thống nhất về tội danh và hình phạt mà

Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử đối v i ị cáo. Tuy nhiên, ị cáo c nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.

Người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c a người ị hại đề nghị Hội đồng

xét xử xem xét tính chất và hành vi nguy hiểm c a các ị cáo đã gây ra. Đặc iệt trong vụ án còn c thêm người tham gia do đ cần xem xét tính chất đồng phạm trong vụ án. Đối v i ị cáo Phạm N1, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt ị cáo 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” là chưa tương xứng v i hành vi nguy hiểm ị cáo đã gây ra, do đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ra mức án phù hợp để mang tính chất răn đe đối v i ị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát iểu quan điểm: Tòa án cấp sơ

thẩm đã xét xử đối v i các ị cáo Phạm N, Phạm N1 là đúng người, đúng tội. Mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối v i các ị cáo là phù hợp v i tính chất mức độ hành vi phạm tội mà các ị cáo đã gây ra. Tại phiên tòa các ị cáo không xuất trình chứng cứ gì m i; đại diện hợp pháp c a người ị hại và người ị hại cho rằng vụ án này là phạm tội c tổ chức, ngoài 02 ị cáo còn c thêm người tham gia và đề nghị tăng hình phạt đối v i ị cáo Phạm N1. Tuy nhiên, tại phiên tòa người ị hại cũng như người đại diện hợp pháp c a người ị hại không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì m i. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử cơ quan tiến hành tố tụng đã làm rõ hành vi phạm tội c a từng ị cáo cũng như xem xét tính chất, vai trò c a những người c liên quan trong vụ. Do đ , không c cơ sở chấp kháng cáo c a người ị hại và đại diện hợp pháp người ị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ c tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đ , tòan diện chứng cứ, ý kiến c a Kiểm sát viên, ị cáo, người ào chữa và những người tham gia tố tụng khác; Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa, người làm chứng anh Dương, à Kiểu vắng mặt không c

lý do. Xét thấy những người này đã c lời khai thể hiện đầy đ trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập nên việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

Người ảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ị hại Trần Đ và người đại diện

hợp pháp c a ị hại Trần T: Luật sư Trương Văn Bình, Luật sư Nguyễn Xuân Tiền vắng mặt không c lý do. Bị hại Trần Đ và người đại diện hợp pháp c a ị hại Trần T đề nghị xét xử vắng mặt Luật sư.

Tại phiên tòa ị cáo Phạm N khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội c a

mình. Bị cáo Phạm N1 cho rằng c xảy ra mâu thuẫn xô xát nhau, tuy nhiên hành vi c a ị cáo chưa đ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá toàn ộ sự thật khách quan c a vụ án mà quy kết ị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” xử phạt ị cáo 01 tù là không đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai nhận tội c a các ị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, đối chiếu v i iên ản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định thương tích, lời khai c a người ị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác c tại hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử c đ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ ngày 26/5/2019, sau khi uống rượu, Phạm N1 nh lại việc ông Đ không đồng ý đi thu lượm lư i đánh cá v i mình nên ực tức, N1 đến nhà ông Trần Đ chửi i l n tiếng. Trần Đ; Trần T và hai con c a N1 là Phạm D1; Phạm N khuyên ảo N1 về nhà, nhưng N1 không chịu về mà tiếp tục chửi l n tiếng nên hai ên xảy ra giằng co, xô đẩy, đánh nhau.

Khi đi về N ực tức do nghĩ ông Đ ném vỏ chai ia vào cha mình nên chạy

đến đống gạch đất nung, loại gạch 06 lỗ trong sân nhà à V lấy 02 viên gạch, mỗi tay cầm một viên chạy ra hư ng cổng nhà à V thì nhìn thấy anh T đang đứng trong sân nhà ông Đ, mặt anh T nhìn về hư ng sân nhà à V, phần cơ thể từ vùng ngực trở xuống ị ức tường rào ằng xi măng nhà ông Đ che lấp. N đứng cách anh T khoảng 4,15mét – 06mét (không xác định được cụ thể khoảng cách) dùng tay phải cầm một viên gạch nhắm vào vùng mặt c a anh T ném mạnh, viên gạch trúng mặt anh T làm anh T ị “vỡ xương gò má phải” và ngã ngửa, đầu đập xuống nền sân xi măng gây “chấn thương sọ não, rạn nứt xương hộp sọ, xuất huyết não, tụ máu ở hai án cầu đại não và vùng chẩm”. T ị trúng gạch nằm ất động nên ông Đ tức giận chạy vào nhà lấy 02 vỏ chai ia Dung Quất, loại chai 330ml cầm chạy đến sát tường rào. Phát hiện Phạm N1 đứng gần tường rào, ông Đ cầm mỗi tay mỗi vỏ chai ia chờm ra ngoài tường rào nhằm mục đích đánh N1 nhưng ị N1 giật lấy được 01 vỏ chai ia từ tay ông Đ, vỏ chai ia còn lại ị rơi phía ên ngoài tường rào. N1 dùng tay trái cầm vỏ chai ia chờm qua tường rào đánh một cái trúng vào thái dương ên trái c a ông Đ, gây thương tích 02% (hai phầm trăm). Lúc này, Phạm D1 lấy một viên gạch trong sân nhà à V chạy ra đường ê tông ném thẳng viên gạch vào nhà ông Đ nhưng không trúng ai rồi cùng N1 ỏ đi về. Anh Trần T được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi sau đ chuyển đến Bệnh viện Đà Nẵng nhưng anh T chết lúc 11 giờ 50 phút, ngày 27/5/2019. Theo, kết luận giám định số 502/KLGĐ-PC09 ngày 30/5/2019 c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi nguyên nhân chết là do đa thương tích, đa chấn thương.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 92/TgT ngày 03/6/2019 c a

Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Ngãi xác định tỷ lệ thương tích c a ông Trần Đ là 02%.

. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ dẫn đến xô xát giữa cha ruột là Phạm N1

và anh ruột là Phạm D1 v i cha con ông Trần Đ, Trần T. Bị cáo N c hành vi dùng gạch ném vào vùng đầu c a ị hại Trần T. Hành vi c a ị cáo thể hiện sự hung hãn, mang tính chất côn đồ. Khi ném gạch vào đầu anh T ị cáo ý thức được hành vi c a mình nguy hiểm, là ném vào vùng xung yếu c a con người c thể gây chết người nhưng ị cáo vẫn cố tình thực hiện. Sau khi anh T ất tỉnh nằm dư i nền xi măng, ị cáo vẫn thản nhiên ỏ đi, ỏ mặc hậu quả xảy ra và thực tế là anh T chết. Mặc dù, tại thời điểm gây án ị cáo ị ệnh Tâm căn suy nhược (F48.0 – ICD.10) và ị hạn chế năng lực nhận thức, điều khiển hành vi nhưng ị cáo N vẫn là người đ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đ , ị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội c a mình. Hành vi phạm tội c a ị cáo N đ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017). Đối v i hành vi cầm vỏ chai ia đánh vào vùng thái dương ông Trần Đ gây thương tích 02% c a ị cáo Phạm N1 đã đ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, ổ sung 2017). Chỉ vì ực tức vô c v i ông Trần Đ mà ị cáo l n tiếng chửi i ông Đ, mặc dù đã được mọi người can ngăn nhưng ị cáo không về nhà mà lại tiếp tục chửi i, xô xát, đánh nhau v i gia đình ị hại dẫn đến mâu thuẫn thêm trầm trọng. Tại thời điểm gây án ị cáo phải ý thức được vỏ chai ia là hung khí nguy hiểm, việc ị cáo đánh trúng vào thái dương ên trái c a ông Đ sẽ gây thương tích và hậu quả thực tế xảy ra là ông Đ ị thương tích 02% (hai phần trăm).

Xét hành vi phạm tội c a các ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực

tiếp xâm phạm đến sức khỏe c a người khác được pháp luật ảo vệ, còn gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây hoang mang, ất ình trong quần chúng nhân dân; ị cáo Phạm N phạm tội mang tính chất côn đồ. Do đ , Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt ị cáo theo điểm n khoản 1 điều 123 Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm N1 tuy chỉ gây thương tích cho ông Trần Đ 2% nhưng ị cáo dùng hung khí nguy hiểm là vỏ chai ia đánh vào vùng thái dương c a ông Đ, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt ị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là c căn cứ và đúng quy định pháp luật.

. Xét kháng cáo c a các ị cáo thì thấy:

Đối v i kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a ị cáo Phạm N: Các tình tiết

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đầy đ . Tại phiên tòa Luật sư ào chữa cho ị cáo trình ày các căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo. Tuy nhiên, các căn cứ mà luật sư ào chữa đưa ra đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo tại giai đoạn sơ thẩm. Xét thấy mức hình phạt 14 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối v i ị cáo là tương xứng v i mức độ, hành vi phạm tội và hậu quả mà ị cáo đã gây ra .Tại phiên tòa hôm nay ị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì m i để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét. Do đ , Hội đồng xét xử không c cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a ị cáo.

Đối v i kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm h y ản án sơ thẩm để

xét xử lại cho đúng sự thật khách quan c a ị cáo Phạm N1 thì thấy: Hành vi phạm tội c a ị cáo là phù hợp v i các tình tiết khách quan c a vụ án. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm lời khai c a ị cáo phù hợp v i lời khai c a người làm chứng cũng như tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ. Khi xét xử ị cáo Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi c a ị cáo gây ra, đồng thời cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt ị cáo mức án 01 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa hôm nay ị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì m i chứng minh cho yêu cầu kháng cáo c a mình, do đ Hội đồng xét xử không c căn cứ để chấp nhận.

. Xét kháng cáo c a người ị hại và đại diện hợp pháp cho người ị hại

thì thấy: Tại phiên tòa người ị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi phạm tội c a Phạm D1 trong vụ án. Người ị hại ông Trần Đ cho rằng Phạm D1 phải chịu trách nhiệm hình sự cùng v i ị cáo Phạm N. Hội đồng xét xử xét thấy, tại các lời khai c a Phạm D1 thể hiện D1 c tham gia đánh nhau v i ị hại Trần T và ị hại ông Đ, hành vi dùng gạch ném vào nhà ông Đ mang tính chất ộc phát và chưa gây thương tích cho ai. D1 không hô hào, cổ vũ hay thống nhất àn ạc v i N và N1 gây thương tích cho anh T và ông Đ. D1 ném gạch vào nhà ông Đ là tức giận do ị đánh, việc ném gạch theo quán tính, không nhắm vào ai, không gây thương tích cho ai, không gây thiệt hại gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối v i Phạm D1 là c căn cứ. Đối v i mức hình phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối v i ị cáo N1 là hoàn toàn phù hợp, do đ không c cơ sở chấp nhận kháng cáo c a người ị hại. Đối v i yêu cầu kháng cáo c a đại diện hợp pháp người ị hại cho rằng vụ án c tổ chức và Phạm N1 là người cầm đầu, còn Phạm N và Phạm N1 chỉ là đồng phạm trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ, sau khi uống rượu, Phạm N1 đã một mình đến nhà ông Trần Đ gây sự. Thấy cha mình lời qua tiếng lại tại nhà ông Đ, Phạm N và Phạm D1 can ngăn và khuyên cha mình là ông N1 về nhà. Từ đ cho thấy nguyên nhân dẫn đến xô xát, đánh nhau xuất phát từ việc Phạm N1 đã sử dụng chất kích thích không làm ch được hành vi dẫn đến mâu thuẫn xảy ra, sự việc xảy ra mang tính ộc phát không c sự chuẩn ị, àn àn từ trư c, do đ không c căn cứ để xem xét về hành vi phạm tội c tổ chức. Bị cáo Phạm N ị xét xử về tội “Giết người” là phù hợp và tương xứng v i hành vi c a ị cáo gây ra. Phạm D1 c tham gia nhưng àn ạc cấu kết, hành động riêng lẻ, độc lập, và chưa đ yếu tố ị truy cứu trách nhiệm hình sự, do đ không c cơ sở để xem xét vai trò đồng phạm trong vụ án.

Tại phiên tòa người ị hại ông Trần Đ và đại diện hợp pháp c a người ị

hại không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì m i. Do đ , Hội đồng xét xử không c căn cứ chấp nhận kháng cáo.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 c a Uỷ an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Phạm N, ị cáo Phạm N1 mỗi ị cáo phải chịu 200.000 đồng án

phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác c a ản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị

c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 c a Bộ luật hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo c a các ị cáo Phạm N, Phạm N1 và kháng

cáo c a người ị hại ông Trần Đ, đại diện hợp pháp cho người ị hại à Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên ản án hình sự sơ thẩm số 06/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

1. Tuyên ố ị cáo Phạm N phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm , s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38 c a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, ổ sung năm 2017.

Xử phạt ị cáo Phạm N 14 (mười ốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tù được tính từ ngày ị ắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/05/2019.

2. Tuyên ố ị cáo Phạm N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm , s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38 c a Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, ổ sung năm 2017.

Xử phạt ị cáo Phạm N1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù

tính từ ngày ị ắt đi thi hành án, trừ thời gian tạm giữ từ ngày 27/5/2019 đến ngày 05/6/2019.

5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 c a Uỷ an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm N, ị cáo Phạm N1 mỗi ị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí

hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác c a ản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị

c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ