vanban.org

Bản án 92/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 25/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Trần Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-01-2022. Về xử lý vật chứng: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Trần Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VŨNG TÀU CỘNGHÒAXÃHỘICHỦNGHĨA VIỆTNAM
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2022/HS-ST
Ngày: 25-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hải.

2. Ông Nguyễn Văn Tám.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2022,tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2022,đối với bị cáo:

Trần Minh T (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1995 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: Số 228/22 đường P, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở: Số 22 đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha Trần Quang D, sinh năm: 1961 và mẹ Lê Thị Tuyết N, sinh năm: 1970; Bị cáo là con út trong gia đình có 02 chị em.

Tiền án: Ngày 29-4-2021, bị Tòa án nhân dân thành p hố vũng Tàu tuyên phạt 05 tháng 29 ngày tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 210/2021/HS-ST.Chấp hành xong án phạt tù ngày 29-4-2021, chưa đóng án p hí HSST.

Bị bắt ngày 04-01-2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)

* Bị hại: Ông Phan Văn T, sinh năm: 1966.(Vắng mặt)

Địa chỉ: 0101 chung cư Phonix lock B phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 03-01-2022, Trần Minh T mượn xe đạp của một người tên B (trong xóm) đi tìm tài sản để lấy trộm. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày T đi đến giữa lock A và lock B chung cư DIC Phoenix, phường Nguyễn An Ninh, thành phố Vũng Tàu thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 38FA-5949, của ông Phan Văn T đang để chìa khóa trên xe. Quan sát xung quanh không thấy có người, T bỏ xe đạp lên yên xe mô tô biển số 38FA-5949 nổ máy điều khiển về nhà địa chỉ 22 Cao Bá Quát. Sau đó, T mang xe đạp đi trả, còn xe mô tô vừa trộm được T sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô 38FA-5949 đi ngang qua chung cư Dic Phoenix thì bị ông T p hát hiện, bắt giữ và giao cho cơ quan Công an xử lý.

Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG-TTHS ngày 09 tháng 02 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng Hình sự thành phố Vũng Tàu. Tại thời điểm bị chiếm đoạt, 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 38FA-5949 có số khung 0503035, số máy 0503316 có giá trị 1.500.000đ (một triệu năm trămngàn đồng).

Quá trình điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt xe mô tô của ông T như nêu trên.

* Việc thu giữ và xử lý tài liệu, đồ vật, tài sản, vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu tạm giữ 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 38FA-5949 số khung 0503035, số máy 0503316 và ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho ông Phan Văn T.

* Về trách nhiệm dân sự: Ông Phan Văn T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 17-3-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo T, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.

- Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Xử lý tài sản, đồ vật, vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại giữ 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 38FA-5949 số khung 0503035, số máy 0503316 cho bị hại ông T nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi p hạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại ông T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có tự khai, lời khai và không có yêu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Về hành vi phạmtội của bị cáo được xác định như sau:

Căn cứ lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại p hiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Lợi dụng sơ ý, mất cảnh giác của bị hại ông Phan Văn T trong việc quản lý, trông coi tài sản, vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 03-01-2022, Trần Minh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 38FA-5949 của ông Phan Văn T giá trị 1.500.000đ (một triệu nămtrămngàn đồng). Xét, hành vi nêu trên của T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộmcắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố là có căn cứ, đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi p hạm tội bị cáo T gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạmđến quyền sở hữu của công dân được p háp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa p hương, gây tâm lý bức xúc cho nhân dân trong cộng đồng dân cư. Do đó, cần tuyên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình p hạt cho bị cáo T.

Về xử lý vật chứng, tài sản:

Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vũng Tàu đã trả lại xe mô tô hiệu Honda biển số 38FA-5949 số khung 0503035, số máy 0503316 cho bị hại ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Trần Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-01-2022.

3. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

4. Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

5. Về án phí: Bị cáo T phải nộp 200.000đ (hai trămngàn đồng) án p hí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ