- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Chí Dũng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Các Điều 106,136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí;Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Luật Phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2022/HS-ST Ngày: 26 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân
Ông Nguyễn Văn Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thuỳ Dung- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:93/ 2022/ TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Chí D, sinh ngày 28/6/1975, tại: thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố N, phường T, thành phố S, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đặng C (đã chết) và bà Hoàng Thị Đ (đã chết);bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: 01 tiền án: Tháng 4/2018, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Đến nay, D chưa nộp 200.000đ tiền án phí sơ thẩm.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
+ Tháng 3/1999, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Đến tháng 12/1999, chấp hành xong.
+ Tháng 5/2000, Công an thành phố Sông Công xử phạt vi phạm hành chính về về hành vi Trộm cắp tài sản.
+ Tháng 12/2000, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xử phạt 30 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Đến tháng 9/2003, chấp hành xong.
+ Tháng 3/2004, Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên và Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 84 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. (Tổng hợp của 02 Bản án nêu trên đối với D). Đến tháng 01/2011, chấp hành xong.
+ Tháng 6/2018, Công an thành phố Sông Công xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
+ Tháng 02/2020, Công an thành phố Sông Công xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại sức khỏe của người khác.
+ Ngày 31/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên ra quyết định khởi tố bị can về hành vi Trộm cắp tài sản
Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên theo quyết định tạm giam số 179/2022/HSST ngày 25/11/2022 của Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên. Bị cáo có mặt tại phiên Toà.
- Người bị hại:
+ Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1953; trú tại: Tổ dân phố 6, phường M, thành phố S, tỉnh T. (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; HKTT: Xóm C, xã B, huyện Đ, tỉnh T; Nơi ở hiện nay: Tổ 2, phường M, thành phố S, tỉnh T. (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)
-Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ 6, phường M, thành phố S, tỉnh T(Vắng mặt).
+ Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ 2, phường M, thành phố S, tỉnh T (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13h ngày 22/3/2022, Đặng Chí D mượn chiếc xe mô tô BKS: 20H1 – 405.24 của chị Lê Thị H (sinh năm: 1989, trú tại: Xóm Đình, xã Tân Phú, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) đi từ xã Đắc Sơn, thành phố Phổ Yên về nhà. Khi đến đoạn cửa nhà ông Nguyễn Văn B(sinh năm: 1953, trú tại: tổ 6, phường Mỏ Chè, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên) D phát hiện 02 bình gas nhãn hiệu Petrol, loại 12 kg/1 bình của gia đình ông bàn để trước cửa nhà không có người trông coi nên D đã nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. D điều khiển xe mô tô đi lên vỉa hè đến trước cửa nhà ông Bàn, quan sát xung quanh không thấy có người để ý, D bê 02 bình Gas để lên xe mô tô mang về nhà cất giấu. Sau đó, ông Bàn kiểm tra camera an ninh của gia đình thấy hình ảnh D trộm cắp 02 bình Gas và đưa lên mạng xã hội Facebook nhờ mọi người truy tìm. Sau đó, D thấy trên mạng xã hội Facebook chia sẻ nhiều hình ảnh D lấy trộm 02 bình Gas nên ngày 30/3/2022, D mang 02 bình Gas để lại phía trước cửa nhà. Ông Bàn đã nhận lại 02 bình Gas trên.
Tiếp đó vào Khoảng 19h00’ ngày 26/8/2022, Đặng Chí D (sinh năm 1975, trú tại Tổ dân phố N, phường Ti, thành phố S, tỉnh T) đi bộ theo đường bê tông liên xóm từ đường tròn thành phố về nhà, khi đi đến khu vực nhà tập thể số 7, thuộc tổ dân phố 2, phường Mỏ Chè, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, D thấy một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng-Bạc-Đen để trong gầm cầu thang, đuôi xe hướng ra ngoài đường, D quan sát xung quanh không thấy ai nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu. D liền tiến lại gần rồi dắt chiếc xe ra ngoài, đi theo hướng đường tròn thành phố đến nhà máy Diezel khoảng 200m thì D lấy một chiếc chìa khóa cửa nhà loại Việt-Tiệp trong chùm chìa khóa của mình vặn mở được khóa điện của xe, nổ máy điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 15h30’ ngày 27/8/2022, khi D đang điều khiển chiếc xe mô tô trên tại thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì bị Công an thành phố Phổ Yên phát hiện bắt giữ, tạm giữ chiếc xe mô tô.
Ngày 04/11/2022 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phổ Yên bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sông Công 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu trắng, đã qua sử dụng có số khung: RLHHC 1204BY491769, số máy: HCT2E3290719.
Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với 02bình gas nhãn hiệu Petrol, loại 12kg, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng – Bạc – Đen, Biển kiểm soát: 20F1 – 121.04 đã qua sử dụng.
Tại kết luận định giá tài sản số 57 ngày 05/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Sông Công, kết luận: 02 bình gas nhãn hiệu Petrol, loại 12kg có giá trị là 1.003.000đ.
Tại kết luận định giá tài sản số 53 ngày 09/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Sông Công, kết luận:01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng – Bạc – Đen, Biển kiểm soát: 20F1 – 121.04 đã qua sử dụng có giá trị là 9.300.000đ .
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Đặng Chí D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội củabị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng – Bạc – Đen, Biển kiểm soát: 20F1 – 121.04 đã qua sử dụng, xét thấy không cần thiết phải tạm giữ nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông Nguyễn Văn Bvà anh Nguyễn Văn H không có yêu cầu bồi thường gì.
Tại bản cáo trạng số 90/ CT - VKS ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đặng Chí D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo D về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D từ 18 đến 24 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, do bị hại Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn H không yêu cầu nên không xem xét; về án phí, đề nghị buộc bị cáo D phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo D không có ý kiến tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, đến thời điểm này bị cáo đã nhận thức ra được lỗi lầm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo Đặng Chí D đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng hơn 13 giờ 00’ ngày 22/3/2022, tại Tổ 6, phường Mỏ Chè, thành phố Sông Công. Đặng Chí D đã trộm cắp 02 bình ga nhãn hiệu Petrol, loại 12kg, của gia đình ông Nguyễn Văn Bgiá trị tài sản là 1.003.000đ (Một triệu không trăm linh ba nghìn đồng).
Khoảng 19 giờ ngày 26/8/2022, tại Tổ 2, phường Mỏ Chè, thành phố Sông Công. Đặng Chí D trộm cắp01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng – Bạc – Đen, Biển kiểm soát: 20F1 – 121.04 đã qua sử dụng, cógiá trị 9.300.000đ (Chín triệu ba trăm nghìn đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Chí D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a)...
b) Đã bị kết án về tội này hoặc..., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo D sinh ra, lớn lên tại địa phương, cơ bản được gia đình nuôi ăn học đầy đủ, có đủ khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo D có đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi. Mặc dù đã rất nhiều lần bị cáo được cơ quan, tổ chức giáo dục nhưng không chịu cải tạo đến nay lại tiếp tục phạm tội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cảiquy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51; Bị cáo phải chịu 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần quy định tại điểm g Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án này, bị cáo D có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội. Cần xét xử nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo bằng hình phạt tù, để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định cần miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án: Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng – Bạc – Đen, Biển kiểm soát: 20F1 – 121.04 đã qua sử dụng, xét thấy không cần thiết phải tạm giữ nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông Nguyễn Văn Bvà anh Nguyễn Văn H không có yêu cầu bồi thường gì. Không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Đặng Chí Dbị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: Các Điều 106,136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí;Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Chí D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Đặng Chí D 18 (Mười tám), tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Chí D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào Ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Đặng Chí D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại là ông Nguyễn Văn Bvà anh Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Sông Công; - Công an TP. Sông Công; - Bị cáo; - Người bị hại - UBND phường Thắng Lợi, TP. Sông Công; (kèm TB Kq XX); - THA h.sự, d.sự ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Bình |