vanban.org

Bản án 92/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 12-7-2022. Về xử lý vật chứng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2022/HS-ST
Ngày 15-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bế Văn Sơn

Ông Phương Ngọc Thuyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Cao Cường, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình, Kiểm sát viên.

Ngày 15-12-2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2022/TLST-HS ngày 14-11-2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2022/QĐXXST-QĐ ngày 02-12-2022; đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn B, sinh ngày 22-10-1986 tại huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Đào Thị K; có vợ Nguyễn Thị Ngọc Y và có 03 con; con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12-7-2022; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 ngày 12-7-2022, tại khu vực thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn B điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 34A-525.59 chở 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép.

Kết quả điều tra đã xác định được:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11-7-2022, Nguyễn Văn B đang ở nhà thì nhận được lời mời kết bạn từ tài khoản Zalo tên “N” đến tài khoản “B” của Nguyễn Văn B. Sau khi nhận lời kết bạn, tài khoản Zalo tên “N” gọi qua Zalo thuê Nguyễn Văn B đến huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn đón khách đưa về Thành phố Hải Phòng với tiền công là 12.000.000 đồng; Nguyễn Văn B đồng ý.

Sau đó, Nguyễn Văn B đã ký Hợp đồng thuê xe tự lái với anh Nguyễn Đức H là người đại diện Dịch vụ cho thuê xe tự lái, Nguyễn Văn B thuê xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO biển kiểm soát 34A-525.59 với giá tiền 1.200.000 đồng/01 ngày.

Khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn B điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 34A-525.59 đi từ huyện T, tỉnh Hải Dương lên huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn. Khi đi đến địa phận huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Văn B liên lạc qua Zalo cho người đàn ông sử dụng tài khoản “N” để thông báo và hỏi địa điểm đón khách cụ thể; người đàn ông này bảo Nguyễn Văn B đi tiếp đến thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn sẽ có người gọi điện hướng dẫn, chia sẻ vị trí đón khách.

Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 11-7-2022 , Nguyễn Văn B nhận được tin nhắn từ tài khoản Zalo có tên “H” hỏi Nguyễn Văn B đang ở đâu và hỏi “A đón 04 kiện tàu phải không” sau đó yêu cầu Nguyễn Văn B kết bạn Zalo. Sau khi kết bạn Zalo, tài khoản “H” nhắn tin qua Zalo thông báo cho Nguyễn Văn B đang cho người đi xem đường và hướng dẫn Nguyễn Văn B đi đến thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để đón khách. Tài khoản “H” gửi qua Zalo cho Nguyễn Văn B 01 đoạn video quay hình ảnh 04 khách Trung Quốc đã đến điểm đón và bảo Nguyễn Văn B khi đến vị trí đón khách thấy có 02 tàu lá chuối để trên đường thì dừng xe và quay đầu xe để đón khách, Nguyễn Văn B đồng ý và di chuyển đến vị trí đón khách theo hướng dẫn; khi thấy 04 người đàn ông đang ngồi ở bụi cây ven đường, Nguyễn Văn B chụp ảnh 04 người đàn ông này và gửi cho tài khoản Zalo “N” xác nhận đúng là khách cần đón; Nguyễn Văn B vẫy tay ra hiệu cho 04 người đàn ông lên xe. Khi Nguyễn Văn B điều khiển xe ô tô đến khu vực thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe, kiểm tra phát bắt quả tang.

Bản Cáo trạng số 121/CT-VKS-P2 ngày 11-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép. Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 24 tháng đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo do có liên quan đến hành vi phạm tội; trả bị cáo 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nguyễn Văn B vì đó là giấy tờ tùy thân, không liên quan đến hành vi phạm tội; tịch thu, tiêu hủy 01 hợp đồng thuê xe ô tô tự lái lập ngày 11-7-2022 do không có giá trị. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Vì mục đích vụ lợi, ngày 12-7-2022 bị cáo Nguyễn Văn B đã có hành vi tổ chức cho 04 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam; khi đi đến khu vực thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn B là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây mất ổn định xã hội tại địa phương nhất là khu vực biên giới. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được rõ hành vi tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi mà vẫn cố ý thực hiện. Để xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra; Hội đồng xét xử sẽ xem xét, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên được coi là người có nhân thân tốt; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Từ những phân tích đánh giá nêu trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng và nghề lái xe là nghề nghiệp duy nhất mà bị cáo có để nuôi sống bản thân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Về biện pháp tư pháp: Thực tế bị cáo chưa được hưởng lợi từ việc phạm tội, vì vậy không áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo.

Về vật chứng đang lưu giữ tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Lạng Sơn: Đối với 01 chiếc điện thoại di động mà bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 hợp đồng thuê xe ô tô tự lái lập ngày 11-7-2022 do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với căn cước công dân, giấy phép lái xe là giấy tờ tùy thân và không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với xe ô tô KIA SORENTO, biển kiểm soát 34A-525.59 mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Kết quả điều tra đã xác định được chủ sở hữu chiếc xe nói trên là anh Ngô Minh H; anh Ngô Minh H đã ủy quyền cho chủ cửa hàng xe ô tô Nguyễn Đức H để cho thuê xe tự lái. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô nói trên và giấy tờ liên quan kèm theo cho Ngô Minh H trước khi vụ án được đưa ra xét xử, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Đối với những người sử dụng tài khoản Zalo "N" và "H"; do Nguyễn Văn B không biết họ tên, địa chỉ của những người này và chưa gặp mặt lần nào nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Quá trình điều tra, trên cơ sở lời khai và kết quả kiểm tra điện thoại của bị cáo Nguyễn Văn B, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Tập đoàn viễn thông quân đội cung cấp thông tin của chủ thuê bao 0393.597.553 và 0335.309.152. Kết quả điều tra, xác minh: Anh Nguyễn Văn L, sinh ngày 25-02-1978, địa chỉ xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là chủ thuê bao 0393.597.553 nhưng hiện nay Nguyễn Văn L cùng gia đình không có mặt tại địa phương; Anh Phan Văn T, sinh ngày 23-4-1988, địa chỉ xã D, huyện D, tỉnh Hà Nam là chủ thuê bao 0335.309.152 nhưng thực tế anh Phan Văn T không sử dụng số thuê bao trên và không quen, không biết hành vi phạm tội của Nguyễn Văn B. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với 04 công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đã bị trục xuất theo thủ tục hành chính về Trung Quốc qua Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Xét ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 12-7-2022.

3. Về xử lý vật chứng

3.1. Tịch thu, hóa giá, nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động OPPO, màu xanh (cũ, đã qua sử dụng), số IMEI1: 863880040748551; IMEI2: 863880040748544; bên trong có lắp 02 (hai) sim.

3.2. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) hợp đồng thuê xe tự lái, lập ngày 11-7-2022; Bên cho thuê (bên A), người đại diện: Nguyễn Đức H; Bên thuê xe (bên B) người đại diện: Nguyễn Văn B (không có chữ ký của đại diện bên A và bên B).

3.3. Trả bị cáo Nguyễn Văn B:

- 01 (một) căn cước công dân số 030086002487, mang tên Nguyễn Văn B, sinh ngày 22-10-1986 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, cấp ngày 24-4-2021.

- 01 (một) giấy phép lái xe số No: 310181048312, mang tên Nguyễn Văn B, do Sở giao thông vận tải Hải Phòng, cấp ngày 24-12-2018.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 11 năm 2022).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ