- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Đạt - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| QUẬN NK THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2022/HS-ST Ngày: 21/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NK, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Công Ny
2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận NK, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận NK tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận NK, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 425/2022/QĐXX-HS ngày 15 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:
VÕ VĂN Đ; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp Ch, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Chỗ ở: như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Võ Văn Ch và bà Lê Thị Tuyết M; Sống chung như vợ chồng với Võ Thị T, sinh năm 1983; Có 02 người con, sinh năm 2014 và năm 2021;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 18/02/2022 (Có mặt)
Bị hại: Bà Cam Thủy G (Vắng mặt)
Địa chỉ: 71B đường A, phường H, quận NK, TP. Cần Thơ
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Võ Văn Ch, sinh năm 1958 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp Ch, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2022, do bản thân đang thiếu nợ cần tiền nên Võ Văn Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. Trước đây, Võ Văn Đ từng làm thuê cho cơ sở kinh doanh của bà Cam Thuỷ G tại số 67A đường A, phường H, quận NK, thành phố Cần Thơ nên biết được thói quen của gia đình bà G là vào ngày Mùng 1 Tết hàng năm sẽ về thăm quê tại tỉnh Sóc Trăng nên Đ đã chuẩn bị công cụ, phương tiện dự định sẽ đột nhập vào nhà bà G lấy trộm tài sản vào đúng thời điểm bà G về quê.
Khoảng 05 giờ sáng ngày 01/02/2022, Võ Văn Đ mang theo túi đựng công cụ gồm: kềm, chìa khoá mở ốc vít, bao tay và dây thừng, một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đen-vàng biển số 68G1-013.60 đi từ nhà cạnh số 34/1C khu vực B, phường L, quận Cái Răng đến nhà bà G. Khi đến nơi, Đ đậu xe trước quán cà phê Tiếng Xưa (đối diện nhà bà G), sau đó Đạt đi bộ sang đường mang túi đựng công cụ cất giấu bên hông nhà bà G. Cất giấu xong, Đ quay lại vị trí xe để ngồi quan sát. Đến khoảng 06 sáng cùng ngày, thấy bà G cùng chồng là ông Hồ Văn R và con gái là Hồ Ngọc T rời khỏi nhà, Đ điều khiển xe môtô đến Bệnh viện Y học Cổ Truyền tại số 768 đường A, phường H, quận NK gửi xe vào nhà xe bệnh viện rồi đi bộ về hướng nhà bà G; Đ lấy túi đựng công cụ sau đó leo chân biển quảng cáo lên mái nhà dùng kềm cắt dây - ngắt nguồn điện, rồi dùng chìa khoá mở ốc mái tole và dùng dây thừng buộc vào đòn tay mái nhà đột nhập vào nhà tìm kiếm tài sản. Sau khi vào nhà, Đ tiếp tục cạy cửa sổ phòng ngủ tại tầng trệt vào trong lấy trộm được số tiền 100.000.000 đồng và một số nữ trang gồm: 02 dây chuyền, 02 nhẫn, 02 vòng đeo tay và 01 đôi bông tai bằng vàng trắng để trong tủ đựng quần áo, rồi tẩu thoát. Đến ngày 04/02/2022, Đ điều khiển xe mô tô chở Võ Thị T (sống chung như vợ chồng) và 02 con về quê tại tỉnh Bến Tre. Khi đến thành phố Bến Tre, Đ nhờ T mang đi bán nữ trang nhưng T hỏi nguồn gốc tài sản, Đ nói do trộm cắp nên T không đồng ý bán giùm. Do đó, Đ tự mang số vàng nữ trang đến bán cho Trương Quốc H - Chủ tiệm vàng K tại địa chỉ số 70 L, phường A, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre được 75.000.000 đồng. Số tiền có được, Đ trả nợ cho Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thị Thu H tổng cộng 13.000.000 đồng và mua 01 xe mô tô Honda Vision biển số 65K1-231.49 giá 21.000.000 đồng để sử dụng làm phương tiện đi lại, số tiền còn lại Đạt tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 324 ngày 17/02/2022 xác định: Dây chuyền vàng trắng, kiểu hình dạng 04 dây bị cà na kết lại, chất lượng vàng 75%, số lượng 9,0936 chỉ có giá trị 36.457.152 đồng; Đôi bông tai vàng trắng, chất lượng vàng 75%, số lượng 2,6 chỉ có giá trị 10.423.660 đồng. Tổng giá trị là 46.88.812 đồng. Đối với tài sản là đồ trang sức còn lại gồm 01 dây chuyền, 02 vòng tay và 02 chiếc nhẫn hiện chưa có đủ thông tin về chủng loại, đặc điểm và hiện trạng để kiểm định, nên không có cơ sở xác định đơn giá và giá trị tài sản.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô Honda Vision biển số 65K1-231.49 (kèm giấy đăng ký xe tên Nguyễn Hiếu N) và số tiền Việt Nam 183.000.000 đồng; 01 điện thoại hiệu Nokia màu xanh; 01 dây thừng dài 4,4m đường kính 01cm, trên có 09 nút thắt chết, 01 nút thắt vòng, 01 nút thắt nối; 02 chiếc găng tay vải kích thước (20 x10)cm màu xám sọc đen.
Tại Cơ quan điều tra, Võ Văn Đ thừa nhận đã thực hiện vụ đột nhập trộm cắp các tài sản nêu trên.
Đối với anh Trương Quốc H - Chủ tiệm vàng K (là người Đ khai mang tài sản đến bán) không xác định được có mua tài sản của Đạt bán. Do đó, chưa có cơ sở xử lý Trương Quốc H.
Đối với Võ Thị T: Khi Đ nhờ T bán giùm tài sản, T có hỏi nguồn gốc và không đồng ý bán giùm Đ nhưng không trình báo cơ quan chức năng. Xét về mối quan hệ thì Đ và T là vợ chồng, đồng thời thiếu hiểu biết pháp luật nên T không tố giác đối với hành vi của Đ. Do đó, Cơ quan điều tra căn cứ khoản 2 Điều 19 Bộ luật hình sự, không đặt ra xem xét xử lý T.
Đối với Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thị Thu H là những người mà Đ lấy số tiền trộm được để trả nợ do Đ mượn. Khi nhận tiền từ Đ thì C, T, H không biết tiền do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với 01 xe mô tô Honda Vision biển số 65K1-231.49 (kèm giấy đăng ký xe tên Nguyễn Hiếu N) và số tiền Việt Nam 13.000.000 đồng đã làm rõ là tài sản Đạt mua - sử dụng từ tiền trộm cắp mà có, Cơ quan điều tra đã xử lý trao trả cho bà Cam Thủy G.
Về trách nhiệm dân sự: Cha của Đ là ông Võ Văn Ch đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 170.000.000 đồng, Cơ quan điều tra đã xử lý trao trả cho bà Cam Thủy G. Ngoài ra, bà G không có yêu cầu gì khác.
Bản Cáo trạng số 79/CT-VKSNK ngày 08/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận NK truy tố bị cáo Võ Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 03 năm 6 tháng đến 4 năm tù đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự như sau:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 dây thừng, 02 chiếc gang tay.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Ông Võ Văn Châu không có yêu cầu gì đối với bị cáo về số tiền ông đã giao nộp để bị cáo bồi thường cho bị hại.
Bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm đoàn tụ gia đình, trở thành công dân tốt trong lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận NK, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận NK, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Bị cáo Võ Văn Đ có hành vi lén lút đột nhập nhà của bà Cam Thủy G lấy trộm tài sản gồm: 100.000.000đồng tiền mặt và một số nữ trang là 02 dây chuyền, 02 nhẫn, 02 vòng đeo tay, 01 đôi bông tai. Theo kết luận định giá tài sản số 324 ngày 17/02/2022 xác định 01 dây chuyền và 01 đôi bông tai vàng trắng có tổng giá trị là 46.88.812 đồng. Đối với tài sản là đồ trang sức còn lại gồm 01 dây chuyền, 02 vòng tay và 02 chiếc nhẫn hiện chưa có đủ thông tin về chủng loại, đặc điểm và hiện trạng để kiểm định, nên không có cơ sở xác định đơn giá và giá trị tài sản. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là người trưởng thành, đầy đủ nhận thức nhưng vì lười lao động, muốn hưởng thụ một cách dễ dàng nên bất chấp thực hiện dù biết đó là hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tự nguyện giao nộp tài sản bồi thường cho bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Với những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện học tập, tu dưỡng trở thành người có ích cho xã hội sau này. Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Số tiền bị cáo lấy trộm và giá trị tài sản định giá được (01 dây chuyền và 01 đôi bông tai) có tổng giá trị là 146.880.812đồng. Bị hại cho rằng tổng giá trị tài sản bị thiệt hại khoảng 250.000.000đồng (gồm 100.000.000đồng và nữ trang là 02 dây chuyền, 02 nhẫn, 02 vòng đeo tay, 01 đôi bông tai). Bị cáo thừa nhận có lấy số tài sản trên và bán nữ trang được 75.000.000đồng, đồng thời bị cáo và gia đình đã tự nguyện giao nộp tài sản là 01 xe moto Honda Vision biển số 65K1-231.49 cùng số tiền 170.000.000đồng để bồi thường cho bị hại nên ghi nhận. Bị hại đã nhận xe và tổng số tiền 183.000.000đồng, ngoải ra không có yêu cầu nào khác nên không đặt ra xem xét.
Đối với số tiền 170.000.000đồng: Ông Võ Văn Ch nộp để bị cáo bồi thường cho bị hại, ông Ch không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô Honda Vision biển số 65K1-231.49 kèm giấy đăng ký xe tên Nguyễn Hiếu Ng và số tiền 13.000.000 đồng là tài sản bị cáo Đ mua, sử dụng từ tiền trộm cắp mà có; số tiền 170.000.000đồng ông Võ Văn Ch là cha ruột của bị cáo nộp để bồi thường cho bị hại: Cơ quan điều tra đã xử lý trao trả cho bà Cam Thủy G là phù hợp nên ghi nhận.
- 01 điện thoại hiệu Nokia 105 màu xanh: là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- 01 dây thừng, 02 chiếc găng tay: là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng:
+ Điều 38; Điều 47; điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
+ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn Đ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2022.
- Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 dây thừng dài 4,4m, đường kính 01cm, trên có 09 nút thắt chết, 01 nút thắt nối; 02 chiếc găng tay vải kích thước (20 x10)cm màu xám sọc đen.
+ Trả lại cho bị cáo Võ Văn Đ: 01 điện thoại hiệu Nokia 105 màu xanh, bàn phím bấm, số imei 353681083005439, đã qua sử dụng.
- Về án phí: Bị cáo Võ Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác; - VKSND Q.NK; - VKSND TP.Cần Thơ; - CQCSĐT Công an Q.NK; - Nhà tạm giữ Công an Q.NK; - Chi cục THADS Q.NK; - Tòa án nhân dân TP.Cần Thơ; - Sở Tư pháp TP.Cần Thơ; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Mai |