- Tranh chấp gì? án hình sự — "LẸ VĂN THỜI - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? *Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| - 1 - TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LAGI TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 92/2022/HS-ST Ngày: 08/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Phú Phước
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Đức và ông Nguyễn Phú Thạnh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 87/2022/TLST-HS ngày 18/10/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HS ngày 20/10/2022 đối với bị cáo;
Lê Văn T, sinh năm 1999 tại Bình Thuận, tên gọi khác: Cu Nhỏ
Nơi đăng ký HKTT: Khu phố 6, phường B, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận
Nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Lê Văn L, sinh năm: 1963 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968
Gia đình có: 04 anh, chị em; bị cáo là con thứ tư.
Vợ, con: Không có
Tiền án: Ngày 29/8/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã La Gi xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tiền sự: Không.
- 2 -
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại nhà tạm giữ công an thị xã La Gi, có mặt tại tòa.
Người bị hại: Nguyễn Minh T, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Vũ P, sinh năm 1992
Nơi cư trú: Khu phố 4, phường T, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận(Vắng mặt)
“NỘI DUNG VỤ ÁN:”
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 25/8/2022. Lê Văn T đi bộ từ nhà ra khu vực biển để trộm cắp tài sản nhằm có tiền mua ma túy sử dụng. Khi đến quán Biển Gọi thuộc khu phố 6, phường Bình Tân, thị xã La Gi thấy cửa khóa, trong quán có bật đèn sáng. Lúc này, Thời quan sát thấy không có ai trông coi quán nên đi ra cửa sau dùng tay giật mạnh cửa gỗ làm bung chốt ra. Thời đi vào thì phát hiện có camera nên lấy một chiếc áo thun che camera lại. Tiếp đó, T đi vào trong phòng ngủ lục tìm tài sản thì phát hiện trong ngăn kéo ở đầu giường có một vòng đeo tay được xâu 13 viên đá tròn màu trắng và một con Tỳ hưu bằng vàng. T lấy bỏ vào trong túi quần rồi tiếp tục tìm thêm tài sản nhưng không phát hiện gì thêm nên bỏ đi về nhà.Trưa ngày 27/8/2022, Thời đến tiệm vàng Nữ Kim Y thuộc khu phố 4, phường T thị xã La Gi bán con Tỳ hưu cho anh Huỳnh Vũ P được 3.800.000 đồng. Đến ngày 30/8/2022, khi làm việc với Công an phường Bình Tân, Thời đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản đồng thời giao nộp 06 viên đá màu trắng còn 07 viên thì Thời khai bị rơi mất.
Tại bản kết luận địng giá tài sản số 57/KL-ĐGTS ngày 26/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
- Một con Tỳ hưu bằng vàng 18K, trọng lượng 1,26 chỉ, có giá trị là: 3.805.200 đồng
- 13 viên đá tròn màu trắng, kích thước 1,2cm có giá trị 50.000 đồng.
- Tổng giá trị tài sản là 3.855.200 đồng
Vật chứng thu giữ gồm: 01 con Tỳ hưu bằng vàng 18K và 06 viên đá màu trắng đã được trả cho anh T, anh T không có yêu cầu gì thêm.
Đối với Huỳnh Vũ P, khi mua con Tỳ hưu của T không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý là phù hợp. Hiện anh P không yêu cầu gì về số tiền 3.800.000 đồng mà anh đã giao cho Thời.
- 3 -
Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 18/10/2022 của VKSND thị xã La Gi đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS ;
Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Xuất phát từ động cơ tư lợi, khoảng 21 giờ ngày 25/8/2022 bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 con Tỳ hưu và 13 viên đá có giá trị 3.855.200 đồng. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật do đó đại diện VKS thị xã La Gi giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án, nên lần phạm tội này là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Trên cơ sở phân tích tính chất hành vi phạm tội của bị cáo , các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, qua đó VKS đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
Phần dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần dân sự
Vật chứng vụ án: Không có
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tòan bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKS đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKS viện dẫn trong cáo trạng.
Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, nói lời sau cùng bị cáo xin giảm hình phạt,
“NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:”
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an thị xã La Gi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,
- 4 -
truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lê Văn T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tại phiên Tòa, qua tranh tụng, đã thừa nhận: khoảng 21 giờ ngày 25/8/2022 bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Minh T 01 con Tỳ hưu và 13 viên đá có giá trị 3.855.200 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập có tại hồ sơ. Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với lời khai người bị hại về thời gian, điạ điểm và loại tài sản bị cáo đã chiếm đoạt và phù hợp với vật chứng thu giữ, vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.
[3] Việc Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi căn cứ vào hành vi trộm cắp tài sản có trị giá 3.805.200 đồng để truy tố bị cáo về tội “ trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS. Đây là chứng cứ buộc tội đúng người, đúng tội nên HĐXX chấp nhận.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm hại đến quyền sỡ hữu tài sản công dân, thể hiện tính tham lam tư lợi, coi thường pháp luật và tài sản người khác. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, do đó HĐXX cần xử lý nghiêm.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1 điều 51 BLHS.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án, nên lần phạm tội này là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
[7]Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã La Gi đã trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX không xét.
[8] Về phần dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì về phần dân sự nên HĐXX không xét.
[9] Về án phí, bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
*Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- 5 -
*Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Phạt Lê Văn T 02(hai) năm tù, thời hạn chấp hành được tính từ ngày bắt thi hành án.
*Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án hợp lệ tại địa phương.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh; - VKSND, CA tx La Gi; - Cơ quan THAHS tỉnh Bình Thuận - Nhà tạm giữ CA TX La Gi - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Chi cục THADS thị xã La Gi; - UBND địa phương bị cáo cư trú - 6 - - 7 - - 8 - - 9 - - 10 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Phú Phước |