vanban.org

Bản án 92/2022/HN-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Hồng P đối với anh Phạm Văn T.

Về con chung: Chị Phan Hồng P có quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Minh Ch, sinh ngày 24/7/2013 (phù hợp với biên bản lấy ý kiến cháu Ch của Tòa án vào ngày 12/4/2022). Ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh Phạm Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Hồng P đối với anh Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2022/HN-ST
Ngày: 25/7/2022
V/v “yêu cầu ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Ngô Văn Đức.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hiển.

Ngày 25 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2022/TLST-HNGĐ ngày 18/3/2022 về việc “Yêu cầu ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 70/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Hồng P, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C12, xã C1, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: số 162 ấp H1, xã H, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2022, trong quá trình tố tụng và tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 22/6/2022, chị Phan Hồng P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn T cưới nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C1, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 26/3/2015, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị cũng có ngồi lại để giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không kết quả nên đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng chị cũng không có tới lui để tạo cơ hội hàn gắn. Nay chị không còn tình cảm với anh T và nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung tên Phạm Minh Ch, sinh ngày 24/7/2013 hiện do chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Ch và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về T sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

* Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa, anh T đều vắng mặt không gửi văn bản thể hiện ý kiến xin hàn gắn.

uan điểm của đại diện iện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: ét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Hồng P đối với anh Phạm Văn T. Về con chung: để cháu Phạm Minh Ch, sinh ngày 24/7/2013 cho chị P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. T sản chung, nợ chung: không có nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các T liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị P vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị P và anh T.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Hồng P và anh Phạm Văn T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị P và anh T sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị cũng đã ngồi lại để giải quyết mâu thuẫn nhiều lần nhưng vẫn không kết quả nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, anh chị cũng không có tới lui để tạo cơ hội hàn gắn. Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng và tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn với anh T và vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Anh T biết việc chị P xin ly hôn với anh nhưng anh vẫn không đến Tòa án để thể hiện ý kiến xin hàn gắn. Qua đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị P và anh T là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị P với anh T là có căn cứ phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Cháu Phạm Minh Ch, sinh ngày 24/7/2013; Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị P và anh T sống ly thân, cháu Ch vẫn do chị P nuôi dưỡng. Đồng thời, tại biên bản lấy ý kiến ngày 12/4/2022 của Tòa án, cháu Ch cũng có nguyện vọng sống với mẹ. Mặt khác, anh T cũng không thể hiện ý kiến yêu cầu nuôi cháu Ch nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết để cháu Ch cho chị P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 Luật hôn nhân gia đình. Chị P tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về T sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), chị Phan Hồng P có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

ì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Hồng P đối với anh Phạm Văn T.

2. Về con chung: Chị Phan Hồng P có quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Minh Ch, sinh ngày 24/7/2013 (phù hợp với biên bản lấy ý kiến cháu Ch của Tòa án vào ngày 12/4/2022). Ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phạm Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về T sản chung: Không có.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), chị Phan Hồng P có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003924 ngày 09/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre. Án phí, chị P đã nộp xong.

Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7, 7a, 7b vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Ñiều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.

Báo cho chị Phan Hồng P biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ