- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng hụi"
- Tòa quyết gì? 39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 92/2022/DS-ST Ngày: 26/8/2022 “V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Tâm;
2. Ông Lê Đức Thụy.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước L – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25, 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
190/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng
góp hụi”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 391/2022/QĐXXST-DS ngày
12 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 375/2022/QĐST-DS ngày
05 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu L (Hoàng Em), sinh năm 1984; địa chỉ:
số nhà 184, tổ 8, ấp TT, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp TQ, xã TM,
huyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt.
3. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm
1966; địa chỉ: ấp TQ, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt (do có ý kiến
đề nghị vắng mặt tại văn bản ghi nhận lời khai ngày 02/6/2022).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu L trình bày, tôi có tham gia chơi hụi do bà Đ làm chủ hụi, từ năm 2019 đến năm 2020 tôi có tham gia 08 dây, trong đó, tôi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp hụi, tuy nhiên, đến tháng 4/2021 (âm lịch), bà Đ tuyên bố vỡ hụi. Tổng số tiền mà bà Đ còn nợ lại của tôi là 66.050.000 đồng. Nay tôi yêu cầu bà Nguyễn Thi Đ và ông Nguyễn Văn T trả cho tôi số tiền còn nợ là 66.050.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Tôi thừa nhận ông L có tham gia chơi hụi do chính tôi làm chủ, ông L
tham gia làm thành viên các dây hụi của tôi nhiều năm nay. Từ năm 2019 - 2020 (âm lịch) ông L chơi hụi và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp hụi. Đến tháng 4/2021 (âm lịch) tôi có tuyên bố các dây hụi mà ông L tham gia chơi hụi bị vỡ hụi nên tôi còn nợ lại ông L số tiền nợ hụi là 66.050.000 đồng. Mục đích của việc tôi làm chủ hụi là để có tiền lời, chăm lo gia đình, lo sinh hoạt, ăn uống hằng ngày trong gia đình. Tôi và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay do điều kiện khó khăn nên tôi xin trả dần cho ông L.
Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong
quá trình giải quyết vụ án, nên không ghi nhận được ý kiến tại các phiên hòa giải. Tuy nhiên, tại biên bản ghi nhận lời khai, do cán bộ Tòa án thực hiện ghi nhận ý kiến của ông T; ông T đã trình bày: ông và bà Nguyễn Thị Đ là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật từ năm 1983 đến nay, ông có nhận và biết được Tòa án mời làm việc do các nguyên đơn với tư cách là hụi viên khởi kiện vợ ông bà Đ là chủ hụi, do sau khi thực hiện khui hụi không thực hiện trả tiền hụi cho các hụi viên; ông có biết bà Đ là chủ hụi nhưng không biết việc ai là hụi viên, cũng như bà Đ khi thu tiền hụi, trả tiền hụi cho ai ông hoàn toàn không nắm được, cũng như không thực hiện thu hụi của các hụi viên thay bà Đ. Bà Đ khi thu tiền hụi, có tiền lời bao nhiêu ông không biết, bà Đ là vợ ông, là chủ hụi từ khoảng hơn 10 năm nay, việc bà Đ bể hụi ông biết, do bà Đ có báo cho ông, ông không đồng ý liên đới với bà Đ do ông không biết các hụi viên, không thu hụi, không biết bà Đ dùng tiền hụi vào mục đích gì; ngoài ra bà Đ còn bị rất nhiều người giựt hụi, ông phải T phụ bà Đ trả thay, ông biết việc đưa ông tham gia tố tụng, nhưng đề nghị vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất, lấy lời khai và tại phiên tòa.
Tại phiên tòa:
- Ông Nguyễn Hữu L, trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong
giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình. Ông L xác định tại đơn khởi kiện ông yêu cầu bà Đ, ông T liên đới trả số tiền là 71.504.000đồng, nhưng sau khi đối chiếu lại ông xác định bà Đ, ông T phải thanh toán với số tiền là 66.050.000đồng, ông đề nghị rút lại yêu cầu khởi kiện với số tiền là 5.454.000đồng.
- Bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời trình bày phù hợp
với lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nên không ghi nhận được ý
kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn
ông Nguyễn Hữu L đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật
Tố tụng dân sự; bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ đã thực hiện đúng theo quy định tại
các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; người người có quyền L, nghĩa vụ liên
quan: Ông Nguyễn Văn T, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 73
Bộ luật Tố tụng dân sự và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Năm 2019al và 2020al, ông Nguyễn Hữu L có
tham gia hụi do bà Nguyễn Thị Đ (vợ ông Nguyễn Văn T) làm chủ hụi. Đến
tháng 4/2021 thì bà Đ tuyên bố vỡ hụi, nên căn cứ khởi kiện của ông L là giấy
hụi các ngày 10/11/2019al, 28/12/2021al, 06/9/2020al, 20/7/2020al. Đồng thời,
bà Đ cũng thừa nhận còn nợ ông L 66.050.000đồng nên ông L khởi kiện là có
căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ Luật dân sự và Điều 18, 23 Nghị
định số 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường.
Quá trình giải quyết vụ án, ông L rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền
5.454.000đồng, nên căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị đình chỉ xét
xử đối với số tiền 5.454.000đồng. Đối với việc bà Đ xin trả dần hàng tháng, do
ông L không đồng ý nên không có cơ sở xem xét, chấp nhận. Đối với yêu cầu
buộc ông Nguyễn Văn T liên đới trả số tiền 66.050.000đồng. Thấy rằng, trong
thời gian bà Đ làm chủ hụi, bà Đ và ông T thừa nhận là vợ chồng, chung sống
cùng nhau. Mặc khác, bà Đ thừa nhận, việc bà chơi hụi nhằm mục đích tạo thu
nhập để phục vụ cuộc sống, sinh hoạt cho gia đình, ông T biết việc bà làm chủ
hụi và đôi khi ông T có thay bà Đ nhận tiền hụi của hụi viên đến đóng hụi. Vì
vậy, có căn cứ xác định rằng, đây là số nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân theo
Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận.
Do đó, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu L đối
với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T; Buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông
Nguyễn Văn T trả cho ông ông Nguyễn Hữu L số tiền 66.050.000đồng. Đình chỉ
xét xử đối với số tiền 5.454.000đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 244 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình; Điều
18, 23 Nghị định 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu,
phường, xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Ông Nguyễn Hữu L (Hoàng Em) khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ
thanh toán tiền hụi, bà Đ là người bị kiện đang cư trú tại địa bàn huyện Chợ Mới, giữa các bên công nhận có chơi hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Về nội dung:
Ông Nguyễn Hữu L, tham các dây hụi từ năm 2019 đến 2020 âm
lịch, do bà Đ làm chủ hụi, việc tham gia các dây hụi do tự thỏa thuận, tự nguyện và không bị ép buộc; tại biên bản hòa giải, biên bản ghi nhận lời khai, ông L và thống nhất về số tiền bà Đ còn nợ hụi là là 66.050.000 đồng; việc thừa nhận, thống nhất của các đương sự là sự kiện không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy, giữa ông L và bà Đ có quan hệ chơi hụi, theo đó bà Đ là chủ
hụi, các đương sự đối chiếu, thống nhất số tiền đến nay bà Đ còn nợ tiền hụi của ông L là là 66.050.000 đồng, ông L không yêu cầu tính lãi, nên Hội đồng xét xử thống nhất, việc ông L yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, lời trình bày của ông L phù hợp với lời trình bày của bà Đ, cũng như số tiền, số lần khởi khui hụi các đương sự đều thống nhất; theo đơn yêu cầu khởi kiện của ông L, yêu cầu bà Đ và ông T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền nợ hụi, thì thấy: việc ông T cho rằng, ông không có trách nhiệm liên đới với bà Đ, vì không biết bà Đ dùng tiền vào việc gì, nhưng ông lại biết việc bà Đ là chủ hụi hơn 10 năm nay, ông T cũng biết việc bà Đ vỡ hụi, cũng phụ bà Đ trong việc trả tiền hụi đối với người chơi hụi (Biên bản lấy lời khai ngày 02/6/2022 đối với ông T), bà Đ cũng khẳng định việc làm chủ hụi, tiền lời hụi bà dùng chung vào mục đích sinh hoạt gia đình. Do đó, có cơ sở xác định ông T hoàn toàn biết việc bà Đ là chủ hụi, biết việc bà Đ là người T nhận tiền từ các hụi viên, nên ông cho rằng không có trách nhiệm liên đới là không có căn cứ, cả ông T và bà Đ đều thừa nhận là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, bà Đ và ông T cùng sống chung nhà, bà Đ có dùng tiền chơi hụi vào mục đích chung trong sinh hoạt gia đình theo như lời trình bày của bà Đ, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lvề việc buộc bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình và thực hiện nghĩa vụ của hụi viên, người tham gia hụi theo quy định tại Nghị định số 19/20219/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, do ông L không đồng ý việc bà Đ trả dần, nên bà Đ, ông T phải có nghĩa vụ thanh toán.
Do đó, bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông L số
tiền hụi đến nay chưa thanh toán là 66.050.000 đồng.
Tại phiên tòa, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, ông L xác
định rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền là 5.454.000đồng, việc rút một phần yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ
Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với số tiền
5.454.000đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu L được chấp nhận, nên ông
L được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí tương ứng với số tiền 66.050.000
đồng, nhưng do bà Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới Bình toán nợ, nên cả bà
Đ, ông T phải liên đới chịu án phí theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo đúng quy
định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 357, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ các Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về
hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hữu L đối với bà Nguyễn Thị Đ và
ông Nguyễn Văn T;
- Buộc bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả ông
Nguyễn Hữu L số tiền 66.050.000 đồng (sáu mươi sáu triệu, không trăm năm
mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với số tiền 5.454.000đồng (năm triệu, bốn trăm
năm mươi bốn nghìn đồng).
3. Về án phí sơ thẩm:
- Hoàn trả cho ông Nguyễn Hữu L số tiền 1.790.000đồng (một triệu, bảy
trăm chín mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004684 ngày 27 tháng 5 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới cấp.
- Bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới chịu án phí dân sự
sơ thẩm với số tiền 3.302.500đồng (ba triệu, ba trăm không hai nghìn, năm trăm đồng), bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:
- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ông Nguyễn
Hữu L có mặt, có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
- Riêng bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1); - Các đương sự (để thi hành) (3); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |