- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty G.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2022/DS-ST Ngày 24/11/2022 V/v tranh chấp tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ksor Thí
2. Bà Nguyễn Thị Mý
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thái Nam, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2022/TLST – DS, ngày 07 tháng 6 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2022/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty G; địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà P, số 5 đường D1, phường L, thành phố T, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền T, chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đăng T; địa chỉ: 89 H, phường H, quận C, thành phố Đ (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị P; địa chỉ: thôn T, thị trấn I, huyện Ia, tỉnh G (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện nguyên đơn trình bày: Ngày 29/12/2018 bà Hoàng Thị P ký hợp đồng tín dụng số 20191120417-0009783 với Công ty V vay số tiền 52.750.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 3,08%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà P có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc và lãi 81.980.825đ trong thời hạn 30 tháng với hình thức trả góp; 29 tháng đầu mỗi tháng trả 2.720.045đ, tháng cuối cùng trả 3.099.590đ; thời gian bắt đầu trả nợ từ ngày 12/02/2019 đến ngày 12/7/2021. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 19/02/2019 bà P đã thanh toán cho Công ty tổng số tiền là 2.700.000đ. Kể từ ngày 19/02/2019 đến nay bà P không tiếp tục thanh toán cho Công ty. Ngày 29/3/2021, khoản nợ của bà P đã được Công ty V chuyển nhượng cho Công ty G theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003. Nay Công ty G yêu cầu bà Hoàng Thị P trả số tiền nợ gốc còn lại là 51.813.330đ tính đến ngày 12/7/2021 và lãi là 27.467.565đ tính đến ngày 12/7/2021, tổng cộng cả gốc và lãi là 79.280.895đ. Ngoài ra Công ty không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn án đã được Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không rõ lý do, cũng không có ý kiến trình bày gửi cho Toà án.
Phát biểu quan điểm, Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 và khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả nợ gốc và lãi. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc bị đơn phải chịu án phí quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Công ty G (sau đây gọi tắt là Cty) khởi kiện bà Hoàng Thị P để yêu cầu trả tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng. Do vậy đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa, do vậy Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Hợp đồng tín dụng số 20190112-0009783 ngày 29/12/2018 được giao kết giữa Công ty V và bà Hoàng Thị P theo hình thức trả góp. Theo thỏa thuận, Cty cho bà Hoàng Thị P vay 52.750.000đ để chi tiêu cá nhân với lãi suất 3,08%/tháng, thời hạn trả trong vòng 30 tháng, thời gian bắt đầu trả từ ngày 12/02/2019 đến ngày 12/7/2021. Xét nội dung thỏa thuận của các đương sự trong hợp đồng nói trên phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên có hiệu lực. Đến hạn ngày 12/7/2021 bà Hoàng Thị P chỉ trả được 2.700.000đ (gốc 936.670đ, lãi 1.763.330đ) là thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày 29/3/2021 Công ty V đã chuyển nhượng khoản nợ của bà Hoàng Thị P cho Công ty G. Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số nợ gốc còn lại 51.813.330đ là đúng quy định của pháp luật.
. Về yêu cầu trả nợ lãi trong hợp đồng tín dụng: Xét nội dung thỏa thuận mức lãi suất cho vay và phương pháp tính lãi đối với khoản vay của các bên trong hợp đồng tín dụng nêu trên (lãi tối đa 37%/năm) là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền lãi còn lại là 27.467.565đ.
. Về án phí: Bị đơn phải chịu 3.964.044đ án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.982.022đ theo biên lai thu số 0008579 ngày 06/6/2022 của Chi cục THADS huyện Ia Grai.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty G.
2. Buộc bà Hoàng Thị P phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Galaxy 51.813.330đ tiền nợ gốc và 27.467.565đ tiền lãi, tổng cộng là 79.280.895đ (bảy mươi chín triệu hai trăm tám mươi nghìn tám trăm chín mươi lăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/11/2022) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
3. Về án phí: Bà Hoàng Thị P phải chịu 3.964.044đ (ba triệu chín trăm sáu mươi bốn nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước. Trả lại cho Công ty G tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.982.022đ (một triệu chín trăm tám mươi hai nghìn không trăm hai mươi hai đồng) theo biên lai thu số 0008579 ngày 06/6/2022 của Chi cục THADS huyện Ia Grai.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Toà án tỉnh; - VKSND huyện; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Chí Công |