- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Huỳnh Minh Đ - Nguyễn Quang H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu c u kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2022/DS-PT Ngày 06-5-2022 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu c u ồi thư ng thi t h i do tài sản xâm ph m |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Th Thanh Tuyền.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Ngọc Mai.
Bà Ngô Th Bích Di p.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cư ng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 4 năm 2022 và ngày 06 tháng 5 năm 2022, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 194/2021/TLPT-DS ngày 26/7/2021 về vi c “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu c u ồi thư ng thi t h i do tài sản xâm ph m .
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2021/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương b kháng cáo và kháng ngh .
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 39/2021/QĐPT-DS, ngày 03 tháng 03 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm 1959; HKTT: Số 80, tổ 2, khu phố K, phư ng T, th xã T1, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1968; HKTT: Số 23/7, đư ng H, tổ 25, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Huỳnh Bá Đ1, sinh năm 1989; đ a chỉ: Số 80, tổ 2, khu phố K, phư ng T, th xã T1, tỉnh Bình Dương.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Th H1, sinh năm 1960; HKTT: Số 23/7 đư ng H, tổ 25, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; đ a chỉ liên l c: Số 79 đư ng T, Tổ 1, khu phố K1, phư ng T, th x T1, tỉnh Bình Dương.
2. Bà Huỳnh N, sinh năm 1983; HKTT: Số 80, Tổ 2, khu phố K, phư ng T, th xã T1, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà Huỳnh N: Ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm 1959; HKTT: Số 80, tổ 2, khu phố K, phư ng T, th xã T1, tỉnh Bình Dương, là ngư i đ i di n theo ủy quyền (văn ản ủy quyền ngày 23/3/2022).
3. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; HKTT: Số 123, tổ 4, khu phố C, phư ng C1, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đ a chỉ liên l c: Số 80, Tổ 2, khu phố K, phư ng T, th xã T1, tỉnh Bình Dương.
4. Bà Nguyễn Th Tuyết N1, sinh năm 1969; HKTT: Số 23/7 đư ng H, tổ 25, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
5. Văn phòng Công chứng T1; đ a chỉ: Đư ng ĐT 746, khu phố B 2, phư ng T, th xã T1, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1975 – Chức vụ: Trưởng Văn phòng Công chứng T1.
6. Ủy ban nhân dân thành phố T; đ a chỉ: Số 1 đư ng Quang Trung, phư ng Phú Cư ng, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Võ Th Lý – chức vụ: Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trư ng thành phố T (văn ản ủy quyền ngày 20/7/2020).
7. Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương; đ a chỉ: Tòa nhà trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương, phư ng H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Tr n Minh D – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, là ngư i đ i di n theo ủy quyền (văn ản ủy quyền ngày 24/3/2020).
8. Công ty TNHH Thương m i D ch vụ H1; đ a chỉ trụ sở: Số 17 đư ng H, tổ 25, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; đ a chỉ liên l c: Số 79 đư ng T, Tổ 1, khu phố K1, phư ng T, th x T1, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Th H2– chức vụ: Chủ t ch H i đồng thành viên kiêm iám đốc.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh N.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Quyết đ nh kháng ngh số 46/2021/QĐKNPT-VKS-DS ngày 16/6/2021 của Vi n trưởng Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm:
[1] Theo đơn khởi kiện ngày 12/9/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ trình bày:
Căn nhà số 17 đư ng H, khu 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nguồn gốc an đ u là ông Huỳnh Minh Đ và bà Nguyễn Th H1 được Nhà nước bán hóa giá. Sau đó, bà H1 và ông Đ thống nhất tặng cho căn nhà nêu trên cho 02 ngư i con của ông Đ và bà H1 là bà Huỳnh N và ông Huỳnh Bá Đ1 vào năm 2008. Sau đó, bà H1 kêu bà Huỳnh N và ông Huỳnh Bá Đ1 dùng nhà và đất nêu trên thế chấp cho Ngân hàng để bà H1 vay tiền. Bà H1 và ông Huỳnh Bá Đ1 đứng tên vay tiền Ngân hàng Thương m i Cổ ph n Hà N i – Chi nhánh Bình Dương tổng c ng số tiền là 500.000.000 đồng. Do bà H1 và ông Đ1 không trả nợ vay cho Ngân hàng, nên Ngân hàng khởi ki n bà H1 và ông Đ1 t i Tòa án. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đ có quyết đ nh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 24/2009/QĐST-KDTM ngày 29/10/2009 về vi c bà H1 và ông Đ1 phải liên đới thanh toán tiền nợ cho Ngân hàng tổng c ng số tiền là 84.557.400 đồng. Tuy nhiên, bà H1 và ông Đ1 không tự nguy n thi hành nên Ngân hàng yêu c u cơ quan Thi hành án thi hành. Để có tiền trả nợ, cả gia đình ông Đ lúc đó gồm ông Đ, bà H, bà Huỳnh N và ông Huỳnh Bá Đ1 thống nhất chuyển nhượng m t ph n đất cho ông Nguyễn Đình P di n tích là 110,6m2 trong tổng di n tích 137,9m2. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P, ph n di n tích đất còn l i bà N và ông Đ1 ký hợp đồng tặng cho ông Đ vào ngày 29/12/2011 t i Văn phòng Công chứng T1 đối với thửa đất số 317, t bản đồ số 30-4, di n tích 43,2m2. Sau đó, ông Đ được Ủy ban nhân dân th xã (nay là thành phố) T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ: CH01940 ngày 24/02/2012. Do ông Đ b b nh nặng nên giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ: CH01940 ngày 24/02/2012 cho bà H1 để bà H1 vay tiền ngân hàng giúp ông Đ. Tuy nhiên, bà H1 không vay tiền ngân hàng giúp ông Đ và cũng không trả l i giấy chứng nhận nhà đất nêu trên cho ông Đ. Do đó, ông Đ đ làm thủ tục xin cấp l i giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất nêu trên và ngày 02/7/2019, ông Huỳnh Minh Đ được Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ CS08872 đối với thửa đất số 321, t bản đồ số 30-4, di n tích 43,2m2, thu c phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vào tháng 4/2019, ông Đ phát hi n căn nhà nêu trên đập phá, sửa chữa và hi n nay ông Nguyễn Quang H cùng vợ là bà Nguyễn Th Tuyết N1 là ngư i đang ở trong căn nhà nêu trên. Qua các buổi hòa giải t i Ủy an nhân dân phư ng P thì ông Đ mới biết vi c ông H mua nhà đất nêu trên từ ông Huỳnh Bá Đ1 và bà Nguyễn Th H1. Do đó, ông Đ khởi ki n yêu c u Tòa án giải quyết:
- Bu c ông Nguyễn Quang H phải bồi thư ng thi t h i căn nhà cấp 04 tọa l c t i số 17 đư ng H1, phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương mà ông H đ đập phá và xây dựng mới, t m tính giá tr thi t h i là 600.000.000 đồng (sáu trăm tri u đồng).
- Bu c ông Nguyễn Quang H trả l i cho ông Huỳnh Minh Đ di n tích đất 43,2m2 tọa l c t i đ a chỉ nêu trên và tháo dỡ công trình xây dựng bất hợp pháp trên đất.
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/8/2020, ông Huỳnh Minh Đ bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau:
Từ ngày 01/4/2017, ông Đ có ký hợp đồng cho Công ty TNHH Thương m i D ch vụ H2 thuê căn nhà số 17 đư ng H, Khu 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương với giá thuê là 10.000.000 đồng/tháng. Do ông H chiếm giữ nhà của ông Đ bất hợp pháp nên ông Đ khởi ki n yêu c u Tòa án bu c ông H phải bồi thư ng thi t h i cho ông Đ số tiền thất thu trong vi c cho thuê nhà từ tháng 4/2019 t m tính đến tháng 8/2020 mỗi tháng là 10.000.000 đồng, tổng c ng số tiền ông H phải bồi thư ng thi t h i t m tính là 160.000.000 đồng (M t trăm sáu mươi tri u đồng).
Ngày 25/01/2021, ông Huỳnh Minh Đ có đơn xin rút m t ph n yêu c u khởi ki n đối với ông Nguyễn Quang H. Theo đó, ông Đ rút yêu c u ông Nguyễn Quang H phải bồi thư ng thi t h i do đập phá căn nhà cấp 04 tọa l c t i số 17 đư ng H1, phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương, t m tính giá tr thi t h i là 600.000.000 đồng (Sáu trăm tri u đồng).
[2] Tại các bản tự khai ngày 04/9/2019, ngày 03/11/2020 và biên bản lấy lời khai ngày 09/10/2019, bị đơn ông Nguyễn Quang H trình bày:
Vào ngày 08/5/2019, ông H có thỏa thuận và ký hợp đồng mua nhà đất với bà Nguyễn Th H1 và ông Huỳnh Bá Đ1 căn nhà cấp 04 tọa l c t i số 17 đư ng H, khu 4, tổ 25, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thu c thửa đất số 317, t bản đồ số 30-4, di n tích 43,2m2 với giá chuyển nhượng là 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ hai trăm tri u đồng), ông H đ trả cho ông Đ1 số tiền 1.500.000.000 đồng (M t tỷ năm trăm tri u đồng) trong đó giao tiền mặt là 1.100.000.000 đồng (M t tỷ m t trăm tri u đồng) và 01 chiếc xe ô tô hi u Inova tr giá 400.000.000 đồng (Bốn trăm tri u đồng) vào ngày 08/5/2019, còn l i số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm tri u đồng) ông H đ trả cho ông Đ1 vào ngày 19/8/2019. Vi c mua bán nhà giữa ông H và ông Đ1, bà H1 có lập hợp đồng mua bán nhà bằng giấy viết tay, hợp đồng không có công chứng. T i th i điểm ký hợp đồng mua căn nhà, ông H biết nhà đất nêu trên do ông Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do ông Đ1 và bà H1 có đưa cho ông H xem các giấy t thể hi n vi c ông Đ là ngư i đứng tên nhà đất nêu trên giùm ông Đ1 nên ông H mới đồng ý mua. Ngoài ra, căn nhà số 17 đư ng H1 này là do ông Đ1 và bà H1 sửa chữa trước khi ông H mua nhà và trước khi ông H nhận nhà thì Công ty TNHH TM DV H2 đ không còn trụ sở t i đ a chỉ số 17 đư ng H. Do đó, đơn ông H không đồng ý toàn b yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ. Ngoài ra, trong vụ án này ông Nguyễn Quang H đ rút toàn b yêu c u khởi ki n của mình và không có yêu c u gì khác.
[3] Tại các bản tự khai ngày 04/9/2019, ngày 01/6/2020, ngày 01/7/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Huỳnh Bá Đ1 trình bày:
Năm 2008, ông Huỳnh Bá Đ1 và à Huỳnh N được Ủy ban nhân dân th x (nay là thành phố) T1 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở số 544/ CN/2008 ngày 21/4/2008 với di n tích đất là 137,09m2. Vào tháng 12 năm 2011, khi được cấp l i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thì ông Đ1 và à N được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 317, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương di n tích đất là 153,8m2. Trước đó, vào tháng 7/2011 ông Đ1 và à N có lập hợp đồng ằng giấy viết tay (không có công chứng, chứng thực chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình P và à Nguyễn Th V m t ph n di n tích đất, theo hợp đồng này thì ông Đ1 và à N chuyển nhượng cho ông P, à V m t căn nhà chiều ngang 9,2 mét; chiều dài 14 mét hết đất, hi n tr ng nhà xây tô chưa lợp mái, chưa lót nền. Ngày 30/9/2011, ông Nguyễn Văn T (chồng bà Huỳnh N) có t cam kết nhà đất tranh chấp tọa l c t i số 17 đư ng H là tài sản riêng của bà N. Cùng ngày 30/9/2011, bà N có t cam kết xác nhận nhà đất t i số 17 đư ng H là tài sản riêng của ông Đ1. Tuy nhiên, do di n tích đất còn l i 43,2m2, sau khi chuyển nhượng đất cho ông P sẽ không đảm bảo điều ki n được phép tách thửa cho ông P nên cùng ngày 30/9/2011 gia đình thống nhất sẽ để ông Đ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với di n tích đất 43,2m2 giùm cho ông Đ1 trong th i h n 05 năm (từ tháng 10/2011 đến tháng 10/2016 dưới hình thức là ông Đ1 và bà N sẽ ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất 43,2m2 cho ông Đ. Vào ngày 29/12/2011, t i Văn phòng Công chứng T1, ông Đ1 cùng à N, ông T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P và à V di n tích chuyển nhượng là 110,6m2, thửa số 317 (thửa mới 318 , t ản đồ số 30-4. iá chuyển nhượng là 1.210.000.000 đồng. Đây là ph n di n tích đất thực tế chuyển nhượng cho ông P và à V thay thế cho hợp đồng giấy tay giữa các bên ký kết vào tháng 7/2011. Cùng ngày 29/12/2011, ông Đ1, bà N và ông T ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Đ đối với di n tích đất 43,2m2 còn l i. Đối với hợp đồng ủy quyền ngày 07/10/2011, t i Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bình Dương, ông Đ1 cùng à N, ông T ký hợp đồng ủy quyền cho à Nguyễn Th H1, n i dung ủy quyền là ủy quyền cho bà H1 được toàn quyền thay mặt, nhân danh ông Đ1 và à N, ông T thực hi n các quyền tặng cho, mua án, chuyển nhượng, thế chấp...đối với nhà và đất tọa l c t i 2/13 (nay là số 17 đư ng H1, phư ng P, th x (nay là thành phố T1, tỉnh Bình Dương, nhưng mục đích là để bà H1 thực hi n thủ tục tách thửa quyền sử dụng đất cho ông P và bà V. Sau khi ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với di n tích đất 43,2m2 nêu trên thì gia đình thống nhất giao cho à Nguyễn Th H1 sinh sống. Đến ngày 27/4/2012, ông Đ1 có ký hợp đồng (giấy viết tay không có công chứng, chứng thực án cho m là bà H1 căn nhà tọa l c t i số 17 đư ng H1, phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương gắn liền với di n tích đất 43,2m2 nêu trên với giá án là 600.000.000 đồng. Đến ngày 08/5/2019, ông Đ1 cùng à Nguyễn Th H1 ký hợp đồng án căn nhà tọa l c t i số 17 đư ng H1 gắn liền với di n tích đất 43,2m2 nêu trên cho ông H (hợp đồng viết giấy tay, không có công chứng, chứng thực , giá chuyển nhượng là 2.200.000.000 đồng, giao nhà đất chuyển nhượng cho ông H cùng ngày 08/5/2019, ông H đ thanh toán toàn số tiền 2.200.000.000 đồng cho ông Đ1. Còn hợp đồng mua án nhà ngày 27/4/2012, giữa ông Đ1 và bà H1 đối với căn nhà tọa l c t i số 17 đư ng H1 nêu trên thì ông Đ1 và bà H1 đ thống nhất tự thỏa thuận hủy hợp đồng, không có tranh chấp gì, bà H1 tự nguy n cho ông Đ1 toàn b số tiền 600.000.000 đồng mà bà H1 đ thanh toán tiền mua nhà. Nhà số 17 đư ng H1 trước khi ông Đ1 và bà H1 án cho ông H theo hợp đồng ngày 08/5/2019 thì ông Đ1 là ngư i đ u tư sửa l i nhà như hi n nay. Sau đó, ông Đ1 và bà H1 giao nhà đ án cho ông H.
Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 19/6/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Bá Đ1 yêu cầu T a án giải quyết:
- Tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/12/2011 giữa ông Huỳnh Bá Đ1, à Huỳnh N và ông Huỳnh Minh Đ đối với di n tích đất 43,2m2 t i phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương;
- êu c u ông Huỳnh Minh Đ thực hi n theo đúng n i dung cam kết ngày 30/9/2011, thực hi n thủ tục sang tên trả l i cho ông Huỳnh Bá Đ1 di n tích đất 43,2m2 t i phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương;
- êu c u Tòa án kiến ngh Ủy an nhân dân thành phố T1 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B 743649 cấp ngày 24/02/2012 đối với di n tích 43,2m2, thửa 321, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i đư ng H1, phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương cho ông Huỳnh Minh Đ;
- êu c u Tòa án kiến ngh Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương thu hồi iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 614608 vào sổ số 08872 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương cấp ngày 02/7/2019 cho ông Huỳnh Minh Đ.
Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 16/10/2020 và đơn khởi kiện độc lập bổ sung ngày 22/10/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Bá Đ1 yêu cầu T a án giải quyết: Tuyên hủy hợp đồng bán nhà gắn liền với 43,2m2 đất thu c thửa 321 t bản đồ số 30-4, tọa l c t i số 17 đư ng H, tổ 25, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương mà ông Huỳnh Bá Đ1 và bà Nguyễn Th H1 đ ký với ông Nguyễn Quang H ngày 08/5/2019.
[4] Tại các bản tự khai ngày 14/9/2019, ngày 14/7/2020, ngày 28/8/2020, và biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Bà H1 thống nhất l i trình ày của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Bá Đ1 và đơn ông Nguyễn Quang H về nguồn gốc căn nhà số 17 đư ng H, tổ 25, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và vi c bà H1 và ông Đ1 bán căn nhà nêu trên cho ông Nguyễn Quang H. Đối với hợp đồng mua án nhà ngày 27/4/2012, giữa ên mua là bà H1 và ên án là ông Đ1 đối với căn nhà tọa l c t i số 17 đư ng H1, phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương gắn liền với di n tích đất 43,2m2 bà H1 và ông Đ1 đ thống nhất tự thỏa thuận hủy hợp đồng mua án nhà nêu trên. Đối với số tiền 600.000.000 đồng bà H1 thanh toán tiền mua nhà của ông Đ1, bà H1 tự nguy n cho ông Đ1, nay bà H1 không có tranh chấp gì với ông Đ1 đối với hợp đồng mua án nhà nêu trên.
Ngày 29/11/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/12/2011 giữa ông Huỳnh Bá Đ1, à Huỳnh N và ông Huỳnh Minh Đ đối với di n tích đất 43,2m2 t i phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương;
- êu c u Tòa án công nhận hợp đồng bán nhà giữa ông Huỳnh Bá Đ1 và bà Nguyễn Th H1 ký ngày 27/4/2012;
- Yêu c u Tòa án bu c ông Huỳnh Minh Đ, ông Huỳnh Bá Đ1, bà Huỳnh N, ông Nguyễn Văn T tiếp tục thực hi n hợp đồng chuyển nhượng căn nhà số 17, tổ 25, đư ng H cho bà H;
- êu c u Tòa án kiến ngh Ủy an nhân dân thành phố T1 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B 743649 cấp ngày 24/02/2012 đối với di n tích 43,2m2, thửa 321, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i đư ng H1, phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương cho ông Huỳnh Minh Đ;
- êu c u Tòa án kiến ngh Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương thu hồi iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 614608 vào sổ số 08872 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương cấp ngày 02/7/2019 cho ông Huỳnh Minh Đ.
Ngày 30/6/2020, bà H1 có đơn xin rút toàn yêu c u đ c lập nêu trên đối với nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ.
[5] Tại các bản tự khai và biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh N trình bày:
Bà N thống nhất với l i trình ày của ông Huỳnh Bá Đ1 về vi c năm 2008, bà N và ông Đ1 được Ủy ban nhân dân th x (nay là thành phố) T1 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở số hồ sơ gốc 544/ CN/2008 ngày 21/4/2008, với di n tích đất là 137,09m2. Vào tháng 12/2011, khi được cấp l i iấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thì bà N và ông Đ1 được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 317, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương di n tích đất là 153,8m2. Vì lý do m của bà N là bà H1 vay tiền của ngân hàng, nhưng không có tiền trả cho ngân hàng nên gia đình bà N thống nhất án nhà cho ông P để trả nợ cho ngân hàng, theo giấy án nhà viết tay ngày 25/7/2011. Ngày 29/12/2011, t i Văn phòng Công chứng T1, bà N cùng ông Đ1, ông T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P và à V di n tích đất chuyển nhượng là 110,6m2, thửa đất số 317 (thửa mới 318 , t ản đồ số 30-4. iá chuyển nhượng là 1.210.000.000 đồng (Đây là ph n di n tích đất thực tế chuyển nhượng cho ông P và à V thay thế cho hợp đồng giấy tay giữa các bên ký kết vào tháng 7/2011 . Cùng ngày 29/12/2011, bà N cùng ông Đ1, ông T ký hợp đồng tặng cho ông Huỳnh Minh Đ ph n di n tích đất còn l i là 43,2m2. Vi c bà N và ông Đ1 ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Đ là ký tặng cho thật sự chứ không phải là ông Đ đứng tên nhà đất giùm cho ông Đ1. Từ năm 2011 đến năm 2015, ông Đ là ngư i quản lý, sử dụng ổn đ nh đối với nhà và đất được tặng cho. Sau đó vào năm 2015, bà H1 đến đuổi ngư i đang thuê căn nhà nêu trên đi và tranh chấp nhà với ông Đ cho đến nay. Sau khi ký hợp đồng tặng cho nhà đất nêu trên cho ông Đ thì bà N không còn quyền lợi hay nghĩa vụ gì đối với căn nhà nêu trên. Đối với t cam kết ngày 30/9/2011 mà phía ông Đ1 cung cấp cho Tòa án, bà N thừa nhận chữ ký, chữ viết “Huỳnh N và dấu vân tay trong t cam kết là của bà N ký và lăn tay. Tuy nhiên, bà N giải thích n i dung t cam kết “Không tranh chấp quyền sử dụng đất và nhà ở của ông Huỳnh Bá Đ1 t i số 17 đư ng H1, khu phố 4, phư ng P, th x T1 là không tranh chấp với ông Đ1 về số tiền 1.210.000.000 đồng án nhà cho ông Nguyễn Đình P chứ không có nghĩa là ông Huỳnh Bá Đ1 được quyền án ph n tài sản là di n tích đất còn l i cho ngư i khác cũng như ông Huỳnh Bá Đ1 được tặng cho nhà cho ông Huỳnh Minh Đ. Đối với t cam kết ngày 30/9/2011 của ông Đ về vi c đứng tên giùm ông Đ1 căn nhà cấp 04 gắn liền 43,2m2 đất tọa l c t i số 17 đư ng H1, bà N thừa nhận chữ ký dưới mục “Nhân chứng là do à Nương ký tên. Ngoài ra, trong vụ án này bà N không có yêu c u hay tranh chấp gì.
[6] Tại bản tự khai ngày 04/9/2019, ngày 28/8/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết N1 trình bày:
Vào ngày 08/5/2019, ông Nguyễn Quang H có thỏa thuận và ký hợp đồng mua bán nhà đất với bà Nguyễn Th H1 và ông Huỳnh Bá Đ1 căn nhà cấp 04 tọa l c t i số 17 đư ng H, khu 4, tổ 25, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, thu c thửa đất số 317, t bản đồ số 30-4, di n tích 43,2m2 với giá chuyển nhượng là 2.200.000.000 đồng, ông H đ thanh toán đ y đủ số tiền mua nhà nêu trên cho ông Đ1. Vi c mua bán nhà giữa ông H và ông Đ1, bà H1 có lập hợp đồng mua bán nhà bằng giấy viết tay.
[7] Tại bản tự khai ngày 07/10/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T trình bày:
Theo giấy chứng nhận chủ sở hữu nhà ở và sử dụng đất t i th i điểm năm 2008 do ông Huỳnh Bá Đ1 và bà Huỳnh N đứng tên thì ông T chưa kết hôn với bà Huỳnh N. Do thủ tục giấy t làm hợp đồng tặng cho ông Huỳnh Minh Đ thì ông T đ kết hôn với bà Huỳnh N nên ông T có ký tên ký trong hợp đồng tặng cho. Vi c tranh chấp hi n nay giữa bà H, ông Đ1, ông H, ông Đ và bà Huỳnh N, ông T không có ý kiến gì.
[8] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ H2 do à Nguyễn Thị H1 là người đại diện theo pháp luật trình bày:
Từ ngày 01/4/2017, Công ty TNHH Thương m i D ch vụ H2 có thuê nhà đất của ông Huỳnh Minh Đ đối với căn nhà số 17 đư ng H, khu 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến ngày 20/6/2018, ông Đ1 và ông Đ đề ngh công ty hủy hợp đồng thuê nhà để ông Đ với ông Đ1 lấy l i nhà làm thủ tục sang tên cho ông Đ1 để ông Đ1 án căn nhà số số 17 đư ng H1 cho nên Công ty TNHH Thương m i D ch vụ H2 dọn trụ sở đi khỏi căn nhà nêu trên vào ngày 20/6/2018. Đối với yêu c u của ông Đ yêu c u ông H phải bồi thư ng thi t h i do b thất thu trong vi c cho thuê nhà công ty thuê nhà, bà H1 có ý kiến là không đồng ý với yêu c u của ông Đ vì trước khi ký hợp đồng bán nhà cho ông H thì công ty đ không còn thuê căn nhà nêu trên ông Đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng công chứng T1, Ủy ban nhân dân thành phố T, Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương vắng mặt trong các buổi làm vi c; hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ và không có văn ản trình bày ý kiến gì đối với n i dung tranh chấp của vụ án.
Tại phiên t a sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ trình bày: Mặc dù ông Đ có ký t cam kết ngày 30/9/2011 về vi c đứng tên giùm ông Đ1 đối với nhà và đất tranh chấp. Tuy nhiên, ông Đ ký t cam kết nêu trên là do bà H1 so n n i dung và đưa ông ký, ông không có xem qua n i dụng. Sau khi ký t cam kết nêu trên khoảng 01 – 02 ngày thì bà H1 có kêu ông Đ đem đến Ủy ban nhân dân th trấn T ký xác nhận nhưng Ủy ban nhân dân th trấn T không xác nhận do không có thẩm quyền. Vi c ký t cam kết nêu trên là do hồ sơ vay tiền của bà H1 và ông Đ1 t i Ngân hàng Thương m i Cổ ph n Nhà Hà N i có vấn đề, c n bổ sung hồ sơ nên bà H1 kêu ông Đ ký; t cam kết không có chữ ký của ông Đ1. N i dung t cam kết có những điểm không phù hợp như: “Kính gửi: UBND th trấn T trong khi nhà và đất tranh chấp tọa l c t i phư ng P, “căn nhà còn l i không đủ điều ki n tách thửa theo Ngh đ nh 60/UBND tỉnh Bình Dương… . Đồng th i, ngày 07/10/2011, t i Phòng Công chứng số 1, tỉnh Bình Dương, ông Đ1, bà N và ông T đ ký hợp đồng ủy quyền cho bà H1 toàn quyền đ nh đo t đối với nhà đất tọa l c t i số 17 đư ng H. Do đó, n i dung ủy quyền nêu trên đ làm vô hi u t cam kết ngày 30/9/2011 của ông Đ.
Nguyên đơn ông Đ xin rút m t ph n yêu c u khởi ki n về vi c bu c ông Nguyễn Quang H phải bồi thư ng thi t h i căn nhà cấp 04 tọa l c t i số 17 đư ng H1, phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương mà ông H đ đập pháp và xây dựng mới, t m tính giá tr thi t h i là 600.000.000 đồng (Sáu trăm tri u đồng) và rút yêu c u ông H phải tháo dỡ nhà xây dựng trái phép trên đất. Nguyên đơn ông Đ xác đ nh yêu c u khởi ki n đối với b đơn ông H như sau: Bu c ông Nguyễn Quang H phải trả l i căn nhà cấp 04 gắn liền với di n tích đất 43,2m2 (di n tích đo đ c thực tế 40,8m2) thu c thửa 321, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i số 17 đư ng H, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho ông Đ; yêu c u ông H phải bồi thư ng cho ông Đ khoản tiền thu nhập mà ông Đ b thất thu từ tháng 5/2019 theo hợp đồng mà ông Đ cho Công ty TNHH Thương m i D ch vụ H2 thuê nhà 10.000.000 đồng/tháng, tính đến ngày Tòa án xét xử là 24 tháng, tổng số tiền yêu c u bồi thư ng thi t h i là 240.000.000 đồng.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông Đ1, bà H1 và ông H đối với nhà đất đang tranh chấp tọa l c t i số 17 đư ng H, ông Đ không yêu c u Tòa án xem xét giải quyết, không yêu c u Tòa án tuyên hợp đồng vô hi u và không yêu c u giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hi u đối với hợp đồng này. Nếu có tranh chấp thì ông Đ1, bà H1 và ông H tự giải quyết với nhau vì không liên quan đến ông Đ. Ông Đ không đồng ý đối với toàn b yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Bá Đ1.
Bị đơn ông Nguyễn Quang H trình bày: Không chấp nhận toàn b yêu c u khởi ki n của ông nguyên đơn ông Đ. Vi c chuyển nhượng nhà đất tọa l c t i số 17 đư ng H giữa ông H và ông Đ1, bà H1 thì ông H đ thanh toán đủ tiền mua nhà cho ông Đ1. Ông H đ được ông Đ1, bà H1 giao nhà từ tháng 5/2019. Do đó, ông H không đồng ý trả l i nhà và đất tranh chấp cho ông Đ. Ngoài ra, đối với yêu c u của ông Đ về vi c bu c ông H phải bồi thư ng thi t h i với số tiền 240.000.000 đồng thì ông H không đồng ý, do ông H mua nhà và nhận nhà từ ông Đ1, bà H. Ông H không chiếm giữ nhà trái pháp luật. B đơn ông H không yêu c u Tòa án xem xét giải quyết đối với hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ký ngày 08/5/2019 giữa ông Đ1, bà H1 và ông H đối với nhà đất đang tranh chấp tọa l c t i số 17 đư ng H. Trong trư ng hợp Tòa án tuyên xử nhà đất tranh chấp là của ông Đ thì ông H sẽ tranh chấp với ông Đ1 và bà H1 bằng m t vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Bá Đ1 trình bày: Ông Đ1 xin rút m t ph n yêu c u đ c lập đối với nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ về vi c yêu c u Tòa án kiến ngh Ủy an nhân dân thành phố T1 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B 743649 cấp ngày 24/02/2012 đối với di n tích 43,2m2, thửa 321, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương cho ông Huỳnh Minh Đ. Vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đ
hủy và ông Đ đ được cấp l i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác vào năm 2019. Ông Đ1 yêu c u Tòa án giải quyết yêu c u đ c lập đối với nguyên đơn ông Đ như sau:
- Tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/12/2011, được ký t i Văn phòng Công chứng T1 giữa ông Huỳnh Bá Đ1, à Huỳnh N, ông Nguyễn Văn T và ông Huỳnh Minh Đ về vi c tặng cho đối với di n tích đất 43,2m2, thu c thửa 321, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i số 17 đư ng H, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
- êu c u ông Huỳnh Minh Đ thực hi n theo đúng n i dung cam kết ngày 30/9/2011, thực hi n thủ tục sang tên trả l i cho ông Huỳnh Bá Đ1 nhà và đất di n tích đất 43,2m2 (di n tích đo đ c thực tế 40,8m2) thu c thửa 321, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i số 17 đư ng H, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
- êu c u Tòa án kiến ngh Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương thu hồi iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 614608 vào sổ số 08872 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương cấp ngày 02/7/2019 cho ông Huỳnh Minh Đ.
Ông Đ1 không đồng ý với yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Đ đối với b đơn ông H, vì nhà và đất tranh chấp thu c quyền sở hữu của ông Đ1, ông Đ chỉ là ngư i đứng tên giùm ông Đ1. Nhà và đất tranh chấp ông Đ1 đ chuyển nhượng cho ông H. Ông Đ1 đ nhận đủ tiền thanh toán từ ông H và cũng đ giao nhà cho ông H. Ông Đ1 không yêu c u Tòa án xem xét giải quyết đối với hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất tranh chấp giữa ông Đ1, bà H1 và ông H. Nếu có tranh chấp thì ông Đ1, bà H1 và ông H sẽ giải quyết với nhau bằng m t vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Thương mại dịch vụ H2 trình bày: Bà H1 rút toàn b yêu c u đ c lập đối với nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ. Bà H1 thống nhất với yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đ1 đối với nguyên đơn ông Đ. Không đồng ý với yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Đ đối với b đơn ông H. Bà H1 không yêu c u Tòa án xem xét giải quyết đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ1, bà H1 và ông H đ ký vào ngày 08/5/2019 đối với căn nhà số 17 đư ng H nêu trên. Trong trư ng hợp các bên có tranh chấp thì sẽ giải quyết với nhau bằng m t vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh N trình bày: Bà N thống nhất với yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Đ đối với b đơn ông H. Không đồng ý với yêu c u đ c lập của ông Đ1 đối với ông Đ. Bà N không yêu c u Tòa án xem xét giải quyết đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ1, bà H1 và ông H. Ngoài ra, bà N không có yêu c u gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết N1 trình bày: Bà N1 thống nhất với l i trình bày của b đơn ông H. Bà N1 không yêu c u Tòa án xem xét giải quyết, không yêu c u Tòa án tuyên vô hi u đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/5/2019 đối với căn nhà tọa l c t i số 17 đư ng H giữa ông Đ1, bà H1 và ông H. Nếu có tranh chấp thì ông Đ1, bà H1 và ông H tự giải quyết với nhau. Ngoài ra, bà N không có yêu c u gì khác.
* T i Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2021/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đ tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử m t ph n yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ về vi c yêu c u b đơn ông Nguyễn Quang H phải bồi thư ng thi t h i với số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm tri u đồng) do tài sản b xâm ph m và yêu c u ông H tháo dỡ công trình xây dựng ất hợp pháp trên đất.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Th H1 đối với nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ về vi c: Yêu c u tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/12/2011 giữa ông Huỳnh Bá Đ1, à Huỳnh N và ông Huỳnh Minh Đ đối với di n tích đất 43,2m2 t i phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương; yêu c u công nhận hợp đồng án nhà giữa ông Huỳnh Bá Đ1 và bà Nguyễn Th H1 ký ngày 27/4/2012; yêu c u u c ông Huỳnh Minh Đ, ông Huỳnh Bá Đ1, bà Huỳnh N, ông Nguyễn Văn T tiếp tục thực hi n hợp đồng chuyển nhượng căn nhà số 17, tổ 25, đư ng H cho bà H; yêu c u Tòa án kiến ngh Ủy an nhân dân thành phố T1 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B 743649 cấp ngày 24/02/2012 đối với di n tích 43,2m2, thửa 321, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i đư ng H1, thành phố T1, tỉnh Bình Dương cho ông Huỳnh Hinh Đư ng; yêu c u Tòa án kiến ngh Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương thu hồi iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 614608 vào sổ số 08872 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương cấp ngày 02/7/2019 cho ông Huỳnh Minh Đ.
3. Đình chỉ xét xử đối với yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Bá Đ1 đối với b đơn ông Nguyễn Quang H về vi c yêu c u Tòa án tuyên hủy hợp đồng bán nhà gắn liền với 43,2m2 đất thu c thửa 321, t bản đồ 30-4 tọa l c t i số 17, đư ng H, tổ 25, khu 4, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
4. Đình chỉ xét xử đối với m t ph n yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Bá Đ1 đối với nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ về vi c yêu c u Tòa án kiến ngh Ủy an nhân dân thành phố T1 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B 743649 cấp ngày 24/02/2012 đối với di n tích 43,2m2, thửa 321, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i đư ng H1, thành phố T1, tỉnh Bình Dương cho ông Huỳnh Minh Đ
5. Chấp nhận m t ph n yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Bá Đ1 đối với nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ:
- Công nhận thửa đất số 321, t ản đồ số 30-4, di n tích đất đo đ c thực tế 40,8m2, tọa l c t i số 17 đư ng H, khu phố 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, trên đất có căn nhà cấp 04 (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà) thu c quyền quản lý, sử dụng của ông Huỳnh Bá Đ1.
Ông Huỳnh Bá Đ1 có trách nhi m chủ đ ng liên h với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với di n tích đất được công nhận quyền quản lý, sử dụng nêu trên theo quyết đ nh của bản án.
Kiến ngh Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương thu hồi iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 614608, số vào sổ CS08872 cấp ngày 02/7/2019 cho ông Huỳnh Minh Đ.
6. Không chấp nhận toàn b yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ đối với b đơn ông Nguyễn Quang H về vi c yêu c u đơn ông H trả l i cho ông Đ nhà và đất di n tích đất 43,2m2 (di n tích đo đ c thực tế 40,8m2 tọa l c t i đ a chỉ số 17 đư ng H, Khu 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và yêu c u ông H phải bồi thư ng thi t h i cho ông Đ khoản tiền b thất thu trong vi c cho thuê nhà kể từ tháng 5/2019 đến tháng 5/2021 là 240.000.000 đồng (Hai trăm ốn mươi tri u đồng).
7. Về chi phí xem xét thẩm đ nh t i chỗ, đo đ c, đ nh giá: Bu c nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ hoàn trả cho đơn ông Nguyễn Quang H số tiền 3.075.444 đồng (Ba tri u không trăm ảy mươi lăm nghìn ốn trăm ốn mươi ốn đồng .
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền yêu c u thi hành án, về án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi có ản án sơ thẩm, ngày 04/6/2021 nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan à Huỳnh N có đơn kháng cáo yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm xem xét l i toàn
ản án sơ thẩm.
Vi n trưởng Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố T kháng ngh theo Quyết đ nh kháng ngh số 46/2021/QĐKNPT-VKS-DS ngày 16/6/2021. Những vấn đề cụ thể trong quyết đ nh kháng ngh yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết gồm: Đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy ản án sơ thẩm.
T i phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ; ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan à Huỳnh N ủy quyền cho ông Huỳnh Minh Đ vẫn giữ nguyên yêu c u kháng cáo; đơn ông Nguyễn Quang H, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan à Nguyễn Th H1 vẫn giữ nguyên ý kiến. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vi c giải quyết vụ án.
Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh B nh Dương phát iểu quan điểm:
* Về tố tụng: Những ngư i tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đ thực hi n đúng quy đ nh của B luật Tố tụng dân sự.
* Về vi c giải quyết đối với bản án b kháng cáo.
1. V t t ng:
- Về vi c đình chỉ giải quyết vụ án: Trước th i điểm Tòa án đưa vụ án ra xét xử, bà Nguyễn Th H1 đ có đơn xin rút toàn yêu c u đ c lập. Theo quy đ nh t i tiểu mục .3 điểm b khoản 1 Điều 24 Ngh quyết số 05/2012/NQ - HĐTP ngày 03/12/2012 của H i đồng Thẩm phán Tòa an nhân dân tối cao thì: “ 3) Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập, nhưng ị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình, thì Toà án ra quyết định đ nh ch giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu của người khởi kiện và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã rút". Đối chiếu với quy đ nh của pháp luật, vi c Tòa án cấp sơ thẩm không đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu c u đ c lập của bà H1 t i th i điểm bà H1 rút đơn mà để đến khi xét xử sơ thẩm ngày 03/6/2021, Tòa án cấp sơ thẩm mới tiến hành đình chỉ xét xử yêu c u đ c lập của bà Nguyễn Th H1 là không đúng quy đ nh.
- Về vi c áp dụng pháp luật n i dung để giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm nhận đ nh hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Huỳnh Bá Đ1, bà Huỳnh N và ông Nguyễn Văn T với ông Huỳnh Minh Đ là đúng quy đ nh của pháp luật; ông Huỳnh Minh Đ đ thực hi n thủ tục đăng ký kê khai đối với di n tích đất được tặng cho và đ được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hợp đồng tặng cho đ phát sinh hi u lực pháp luật. Như vậy, ông Huỳnh Minh Đ sở hữu nhà đất tranh chấp là có căn cứ pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 166 của B luật Dân sự công nhận quyền sở hữu nhà đất tranh chấp cho ông Huỳnh Bá Đ1 là áp dụng pháp luật không đúng vì Điều 166 của B luật Dân sự chỉ áp dụng đối với trư ng hợp ngư i chủ sở hữu có quyền đòi l i tài sản từ những ngư i chiếm hữu, ngư i sử dụng tài sản, ngư i được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
- Giải quyết vụ án không tri t để: Ông Huỳnh Minh Đ, bà Huỳnh N có đơn kiến ngh yêu c u Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất di n tích 43,2m2 đang tranh chấp giữa ông Nguyễn Quang H với ông Huỳnh Bá Đ1 vô hi u. Tòa án cấp sơ thẩm không giải thích rõ cho các đương sự về quyền khởi ki n liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông Huỳnh Bá Đ1, bà Nguyễn Th H1 với ông Nguyễn Quang H và nếu yêu c u tuyên vô hi u hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Huỳnh Bá Đ1, bà Nguyễn Th H1 với ông Nguyễn Quang H thì phải yêu c u giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hi u, ý kiến của đương sự phải được lập ằng văn ản và lưu vào hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét tính hợp pháp của giao d ch chuyển nhượng nhà đất đất bằng giấy tay giữa ông Huỳnh Bá Đ1, bà Nguyễn Th H1 với ông Nguyễn Quang H là không giải quyết tri t để vụ án dẫn đến vi c tiếp tục phát sinh tranh chấp về sau. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/12/2011 giữa ông Huỳnh Bá Đ1, bà Huỳnh N, ông Nguyễn Văn T với ông Huỳnh Minh Đ; ông Huỳnh Bá Đ1 cho rằng chỉ nh ông Huỳnh Minh Đ đứng tên dùm tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do di n tích 43,2m2 còn l i không đủ điều ki n tách thửa. Tòa án sơ thẩm có nhận đ nh tính hợp pháp của hợp đồng tặng quyền sử dụng đất ngày 29/12/2011 nhưng không quyết đ nh tính hợp pháp của hợp đồng tặng cho này là chưa giải quyết tri t để yêu c u đ c lập của ông Đ1.
2. V nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm nhận xét, đánh giá, quyết đ nh của bản án sơ thẩm không phù hợp với tài li u, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; Tòa căn cứ vào “T cam kết lập ngày 30/9/2011 để cho rằng ông Huỳnh Minh Đ chỉ đứng tên dùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà đất tranh chấp vẫn thu c quyền sở hữu, sử dụng của ông Huỳnh Bá Đ1 nên không chấp nhận yêu c u đòi l i nhà đất tranh chấp của nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ; chấp nhận m t ph n yêu c u đ c lập của ông Huỳnh Bá Đ1 và công nhận thửa đất số 321, t bản đồ số 30-4 di n tích đất qua đo đ c thực tế 40,8m2 tọa l c t i số 17 đư ng H thu c quyền quản lý, sử dụng của ông Huỳnh Bá Đ1 là không đúng pháp luật; bởi lẽ: “T cam kết có m t số n i dung không phù hợp như: Nhà đất tọa l c t i phư ng P, th xã T, tỉnh Bình Dương nhưng t i ph n kính gửi cơ quan có thẩm quyền l i ghi “Kính gửi: UBND thị trấn T ; th i điểm ông Đ lập “T cam kết thì Quyết đ nh của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về vi c quy đ nh di n tích tối thiểu các lo i đất được phép tách thửa trên đ a bàn tỉnh Bình Dương đang có hi u lực pháp luật là Quyết đ nh số 36/2011/QĐ-UBND ngày 12/9/2011 nhưng t cam kết ghi Ngh đ nh 60/UBND tỉnh Bình Dương; iấy cam kết không ghi số hợp đồng công chứng và sai tên phòng công chứng. Ngoài ra, các ên thỏa thuận đứng tên dùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái với quy đ nh của pháp luật quy đ nh t i khoản 20 Điều 4 của Luật Đất đai năm 2003. Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho ngư i sử dụng đất để bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của ngư i chủ sở hữu; pháp luật không quy đ nh trư ng hợp cho đứng tên dùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/12/2011 đ được lập thành văn ản và được Văn phòng công chứng T1 ký công chứng là phù hợp với quy đ nh t i Điều 467 của B luật Dân sự năm 2005; Điều 106, Điều 129 của Luật Đất đai năm 2003, về n i dung các ên thỏa thuận tặng cho không vi ph m pháp luật, không trái đ o đức xã h i; các chủ thể tham gia xác lập hợp đồng có đ y đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguy n. Sau khi hợp đồng tặng cho được công chứng, ông Huỳnh Minh Đ đ thực hi n thủ tục đăng ký kê khai đối với di n tích đất được tặng cho nêu trên và ngày 24/02/2012, ông Đ đ được Ủy ban nhân dân th xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với di n tích đất tặng cho nên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/12/2011 đ phát sinh hi u lực kể từ th i điểm ông Đ thực hi n thủ tục đăng ký kê khai quyền sử dụng đất. Như vậy, quyền sở hữu đối với bất đ ng sản đ được xác lập cho ông Huỳnh Minh Đ là hợp pháp theo quy đ nh t i khoản 1 Điều 168 của B luật Dân sự năm 2005.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2013 ông Đ cho à Phan Th M
thuê nhà trong th i h n 12 tháng, ngày 01/4/2017 ông Đ đ ký hợp đồng cho Công ty TNHH H2 do bà H1 làm đ i di n pháp luật, tiền thuê do ông Đ nhận nếu cả bà H1 và ông Đ1 cho rằng ông Đ không phải chủ sở hữu nhà đất thì t i sao khi ký hợp đồng thuê nhà bà H1 không ký trực tiếp với ông Huỳnh Bá Đ1 mà ký với ông Đ; bà H1 cũng thừa nhận tiền cọc nhà 30.000.000 đồng và tiền thuê nhà tháng 4/2017 à H1 vẫn thanh toán cho ông Đ. Theo t cam kết ngày 30/9/2011, th i h n ông Huỳnh Minh Đ phải thực hi n thủ tục tặng cho l i di n tích đất 43,2m2 cho ông Huỳnh Bá Đ1 là ngày 30/10/2016 nhưng sau khi hết th i h n đứng tên dùm theo t cam kết ông Huỳnh Minh Đ không thực hi n thủ tục tặng cho l i quyền sử dụng đất nhưng ông Huỳnh Bá Đ1 cũng không có ý kiến gì. Như vậy, từ khi được tặng cho nhà đất đến nay, ông Huỳnh Minh Đ vẫn đang thực hi n quyền sở hữu của chủ sử dụng đất đối với nhà đất tranh chấp. Vi c Tòa án cấp sơ thẩm quyết đ nh căn nhà thu c sở hữu của ông Huỳnh Bá Đ1 là trái pháp luật, xâm ph m đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Từ những nhận đ nh trên xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm vi ph m trong vi c nhận xét, đánh giá không phù hợp với tài li u trong hồ sơ. Do đó nguyên đơn, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo, Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T1 kháng ngh là có căn cứ. Căn cứ khoản 3 Điều 308 của B luật tố tụng dân sự, đề ngh H i đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu c u kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chấp nhận kháng ngh của Vi n trưởng Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T1, hủy Bản án dân sự số 39/2021/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ D u M t, tỉnh Bình Dương, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết l i theo quy đ nh của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra t i phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phiên tòa, l i trình bày của các đương sự, ý kiến của luật sư và Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Huỳnh Bá Đ1, ông Nguyễn Văn T, đ i di n hợp pháp của Văn phòng Công chứng T1, đ i di n hợp pháp của Ủy an nhân dân thành phố T và đ i di n hợp pháp của Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 296 của B luật Tố tụng dân sự, H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
Xét vi c Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu c u khởi ki n, yêu c u đ c lập của các đương sự:
Ngày 18/9/2019, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Nguyễn Quang H đối với b đơn ông Huỳnh Bá Đ1 và bà Nguyễn Th H1 theo Thông báo thụ lý số 350/TB-TLVA về vi c “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất . Ngày 02/10/2019, Tòa án thụ lý yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ đối với b đơn ông Nguyễn Quang H theo Thông báo thụ lý số 373/2019/TLST-DS ngày 02/10/2019 về vi c “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu c u bồi thư ng thi t h i do tài sản b xâm ph m . Ngày 14/10/2019, Tòa án an hành Quyết đ nh nhập vụ án số 05/2019/QĐST-DS về vi c nhập vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 373/2019/TLST-DS ngày 02/10/2019 vào vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 350/TB-TLVA ngày 18/9/2019 thành vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 350/TB-TLVA ngày 18/9/2019 về vi c “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu c u bồi thư ng thi t h i do tài sản b xâm ph m . Ngày 10/01/2020, nguyên đơn ông Nguyễn Quang H có đơn xin rút toàn b yêu c u khởi ki n đối với b đơn ông Huỳnh Bá Đ1 và bà Nguyễn Th H1. Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh Đ vẫn giữ nguyên yêu c u đ c lập đối với nguyên đơn ông Nguyễn Quang H. Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết đ nh đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Nguyễn Quang H theo Quyết đ nh số 01.1/2020/QĐST-DS ngày 13/01/2020 và đ an hành Thông áo về vi c thay đổi đ a v tố tụng số 02/TB-TA ngày 02/3/2020 là phù hợp với quy đ nh t i điểm c khoản 2 Điều 217 của B luật Tố tụng dân sự.
Ngày 25/01/2021 và t i phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ xin rút m t ph n yêu c u khởi ki n đối với b đơn Nguyễn Quang H. Theo đó, ông Đ rút yêu c u ông H phải bồi thư ng thi t h i do đập phá căn nhà cấp 04 tọa l c t i số 17 đư ng H1, phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương của ông Đ, t m tính giá tr thi t h i là 600.000.000 đồng (sáu trăm tri u đồng) và rút yêu c u ông H phải tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên đất tranh chấp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với m t ph n yêu c u khởi ki n nêu trên của nguyên đơn ông Đ là phù hợp với quy đ nh t i điểm c khoản 1 Điều 217 của B luật Tố tụng dân sự.
Ngày 13/12/2019, Tòa án thụ lý yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Th H1 đối với ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh Đ. Ngày 30/6/2020 và t i phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Th H1 xin rút toàn b yêu c u đ c lập nêu trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu c u đ c của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Th H1 đối với nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ trong ph n quyết đ nh của bản án là phù hợp với quy đ nh t i điểm c khoản 1 Điều 217 và Điều 244 của B luật Tố tụng dân sự.
Ngày 28/10/2020, Tòa án thụ lý yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Bá Đ1 đối với b đơn ông Nguyễn Quang H. T i Biên bản hòa giải ngày 01/12/2020 và t i phiên tòa sơ thẩm ông Đ1 rút toàn b yêu c u đ c lập đối với b đơn ông H. Ngoài ra, t i phiên tòa sơ thẩm, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ1 rút m t ph n yêu c u đ c lập đối với nguyên đơn ông Đ về vi c yêu c u Tòa án kiến ngh Ủy an nhân dân thành phố T1 thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số B 743649 cấp ngày 24/02/2012 đối với di n tích 43,2m2, thửa số 321, t ản đồ số 30-4, tọa l c t i đư ng H1, thành phố T1, tỉnh Bình Dương cho ông Huỳnh Minh Đ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với toàn b yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ1 đối với b đơn ông H và m t ph n yêu c u đ c lập của ông Đ1 đối với nguyên đơn ông Đ là phù hợp.
Về n i dung:
Quá trình giải quyết vụ án và t i phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn,
đơn và những ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thống nhất trình bày: Nhà và đất tranh chấp tọa l c t i số 17 đư ng H, khu 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc là của ông Đ và bà H. Sau khi ông Đ và bà H1 ly hôn thì vào năm 2008 ông Đ và bà H1 đ lập thủ tục tặng cho nhà đất nêu trên cho 02 ngư i con là ông Đ1 và bà N. Ngày 21/4/2008, ông Đ1 và bà N được Ủy ban nhân dân th xã (nay là thành phố) T cấp Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 544/GCN/2008 với di n tích đất ở là 137,09m2 và di n tích nhà ở là 51,10m2. Ngày 20/11/2011, ông Đ1 và bà N có đơn xin cấp l i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng th i xin xóa bỏ vi c cấp quyền sở hữu đối với công trình trên đất nên ngày 15/12/2011, ông Đ1 và bà N được Ủy ban nhân dân th xã (nay là thành phố) T cấp l i Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01782 với di n tích đất ở là 153,8m2 thu c thửa số 317, t bản đồ số 30-4. Ngày 29/12/2011, t i Văn phòng Công chứng T1, ông Đ1, bà N và ông T (chồng bà N) ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông P và bà V để chuyển nhượng cho ông P di n tích 110,6m2 đất thu c thửa số 317 nêu trên nên di n tích đất còn l i của thửa đất số 317 là 43,2m2 (trên đất có nhà). Đồng th i, cùng ngày 29/12/2011, t i Văn phòng Công chứng T1, ông Đ1, bà N và ông T cũng ký hợp đồng tặng cho ph n di n tích đất 43,2m2 còn l i của thửa đất số 317, t bản đồ số 30-4 tọa l c t i phư ng P, thành phố T cho ông Đ. Ngày 24/02/2012, ông Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 743649 đối với di n tích 43,2m2 thu c thửa số 321, t bản đồ số 30-4, tọa l c t i phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Chữ ký và dấu lăn tay trong “T cam kết ngày 30/9/2011 về vi c đứng tên giùm ông Huỳnh Bá Đ1 căn nhà cấp 04 gắn liền 43,2m2 đất tọa l c t i số 17 đư ng H1, khu 4, phư ng P, th xã T là do ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh N ký và lăn tay. Chữ ký và dấu lăn tay trong “T cam kết ngày 30/9/2011 về vi c không tranh chấp quyền sử dụng đất và nhà ở của ông Huỳnh Bá Đ1 t i số 17 đư ng H1, khu 4, phư ng P, th xã T do bà Huỳnh N ký tên và lăn tay. T cam kết ngày 30/9/2011 của ông Huỳnh Minh Đ và bà Huỳnh N là do bà Nguyễn Th H1 so n n i dung và đưa ông Đ, bà N ký và lăn tay. Như vậy, vi c thống nhất và thừa nhận của các đương sự đối với những n i dung nêu trên là những tình tiết, sự ki n không phải chứng minh theo quy đ nh t i khoản 2 Điều 92 của B luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn ông Đ và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N cho rằng ông Đ được ông Đ1, bà N và ông T ký hợp đồng tặng cho nhà đất tranh chấp tọa l c t i số 17 đư ng H, khu 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được ký ngày 29/12/2011 t i Văn phòng Công chứng T1, ông Đ không đứng tên nhà đất tranh chấp dùm ông Đ1. Do đó, nhà đất tranh chấp nêu trên thu c quyền sở hữu hợp pháp của nguyên đơn ông Đ. Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ1 và bà H1 cho rằng nhà và đất tranh chấp nêu trên thu c quyền sở hữu, sử dụng của ông Đ1, nhưng do quy đ nh của Nhà nước t i th i điểm làm thủ tục tách thửa chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P và bà V thì ph n di n tích đất còn l i là 43,2m2 không đủ điều ki n tách thửa, nên các thành viên trong gia đình có thỏa thuận với nhau về vi c ông Đ sẽ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ1 trong th i h n 05 năm. Vì vậy, ông Đ1, bà N và ông T đ ký hợp đồng tặng cho ông Đ nhà đất tranh chấp t i Văn phòng Công chứng T1 là để hợp thức hóa vi c ông Đ đứng tên dùm ông Đ1.
Về yêu c u đ c lập của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Bá Đ1 đối với nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ: Xét thấy, theo “T cam kết do à Huỳnh N lập ngày 30/9/2011 có n i dung: “Tôi và ông Huỳnh Bá Đ1 cùng đứng tên đồng sở hữu căn nhà số 17 đường H, hu 4, phường P, thị xã T. Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở số 544/GCN/2008 do UBND thị xã cấp ngày 21/4/2008. Tôi xác nhận căn nhà và đất nêu trên là tài sản riêng của ông Huỳnh Bá Đ1 . Bà N thừa nhận chữ ký và dấu lăn tay trong t cam kết này là của bà N. Bà N cho rằng “T cam kết nêu trên là do bà H1 so n, khi bà H1 kêu bà N ký vào “T cam kết thì bà N ký nhưng bà N không đọc n i dung, l i trình bày của bà N là không có căn cứ để H i đồng xét xử chấp nhận. Do đó, căn cứ vào n i dung cam kết trên có cơ sở để xác đ nh nhà và đất tọa l c t i số 17 đư ng H, khu 4, phư ng P, th xã T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở số 544/GCN/2008 do Ủy ban nhân dân th xã (nay là thành phố) T cấp ngày 21/4/2008 là tài sản riêng của ông Huỳnh Bá Đ1 theo quy đ nh t i Điều 171 và Điều 249 của B luật Dân sự năm 2005.
Xét “T cam kết do ông Huỳnh Minh Đ lập ngày 30/9/2011 thể hi n n i dung: “Ngày 25/7/2011, ông Huỳnh Bá Đ1 ký hợp đồng chuyển nhượng phần đất có diện tích 110,6m2 cho ông Nguyễn Đ nh P với số tiền 1.210.000.000 đồng. Căn nhà c n lại diện tích 43,2m2 không đủ điều kiện tách sổ cho ông P (theo nghị định 60/UBND t nh B nh Dương diện tích tổi thiểu còn lại là 60m2). Do đó, ông Đ1 làm thủ tục cho tặng căn nhà cho tôi đứng tên theo hợp đồng tặng cho số ....ngày....được phòng công chứng số 2 chứng thực.....thời hạn đứng tên giùm là 05 năm kể từ tháng 10/2011 đến tháng 10/2016; đến ngày 30/10/2016, ông Đ sẽ làm thủ tục cho tặng lại cho con tôi là Huỳnh Bá Đ1 đứng tên trong giấy chứng nhận QSDĐ và Quyền sở hữu ở căn nhà nói trên . Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án và t i phiên tòa phúc thẩm, ông Đ thừa nhận chữ ký và dấu lăn tay trong t cam kết này là của ông Đ. Do đó, có căn cứ xác đ nh căn nhà cấp 04 găn liền di n tích đất 43,2m2 tọa l c t i số 17 đư ng H, khu 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là ông Đ đứng tên dùm ông Đ1. Vì vậy, ông Đ cho rằng ông không biết n i dung t cam kết như thế nào, vì nghĩ tình cảm vợ chồng trước đây nên bà H1 kêu ông ký thì ông ký mà không đọc l i n i dung là không có căn cứ để H i đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, xét về n i dung “t cam kết có m t số n i dung không hợp lý như: Nhà đất tọa l c t i phư ng P, th x T, tỉnh Bình Dương nhưng t i ph n kính gửi cơ quan có thẩm quyền l i ghi “Kính gửi: UBND thị trấn T ; th i điểm ông Đ lập “t cam kết thì quyết đ nh của Ủy an nhân dân tỉnh Bình Dương về vi c quy đ nh di n tích tối thiểu các lo i đất được phép tách thửa trên đ a àn tỉnh Bình Dương đang có hi u lực pháp luật là Quyết đ nh số 36/2011/QĐ-UBND ngày 12/9/2011, không phải Ngh đ nh 60/UBND tỉnh Bình Dương như viết trong t cam kết; trong “t cam kết này không thể hi n hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất di n tích 43,2m2 là hợp đồng nào và có ghi “…được Phòng Công chứng số 2 chứng thực trong khi hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đ1, bà N, ông T và ông Đ được ký và được công chứng t i Văn phòng Công chứng T1. Tuy nhiên, di n tích đất ghi trong "t cam kết" này trùng khớp với di n tích ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 743649 ngày 24/02/2012, ngoài di n tích đang tranh chấp thì ông Đ và ông Đ1 không còn ph n đất nào khác có di n tích 43,2m2. Do đó, mặc dù “t cam kết có m t số n i dung không phù hợp như nêu trên nhưng không làm ảnh hưởng đến ản chất n i dung của “t cam kết là ông Đ đứng tên dùm ông Đ1 căn nhà gắn liền với di n tích đất 43,2m2 tọa l c t i số 17 đư ng H, phư ng P.
Theo n i dung "T cam kết ngày 30/9/2011", ông Đ1 đ nh ông Đ đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với di n tích đất 43,2m2, th i h n đứng tên dùm là 05 năm (từ tháng 10/2011 đến tháng 10/2016). Tuy nhiên, th i h n theo thỏa thuận trên đ kết thúc vào tháng 10/2016, nhưng đến nay ông Đ không thực hi n theo đúng cam kết nên ông Đ1 có đơn yêu c u đ c lập yêu c u Tòa án giải quyết bu c ông Đ trả l i cho ông Đ1 căn nhà cấp 04 gắn liền với di n tích đất 43,2m2 (di n tích đo đ c thực tế 40,8m2) thu c thửa 321, t bản đồ số 30-4, tọa l c t i số 17 đư ng H, Khu 4, phư ng P, thành phố T1, tỉnh Bình Dương và yêu c u Tòa án kiến ngh Sở Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Bình Dương thu hồi iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 614608, số vào sổ 08872 cấp ngày 02/7/2019 cho ông Huỳnh Minh Đ được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ theo quy đ nh t i Điều 166 của B luật Dân sự 2015 và Điều 106 Luật Đất đai năm 2013.
Xét yêu c u khởi ki n và yêu c u kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ đối với b đơn ông Nguyễn Quang H: Do nhà và đất tranh chấp thu c quyền sở hữu, sử dụng của ông Đ1 theo phân tích t i mục [2.4] và [2.5] nên yêu c u khởi ki n của nguyên đơn ông Đ về vi c bu c b đơn ông H trả l i cho ông Đ căn nhà cấp 04 gắn liền với di n tích đất 43.2m2 (di n tích đất đo đ c thực tế 40,8m2) thu c thửa 321, t bản đồ số 30-4, tọa l c t i số 17 đư ng H, khu 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và yêu c u b đơn ông H phải bồi thư ng cho nguyên đơn khoản tiền thu nhập mà nguyên đơn mất từ tháng 5/2019 đến tháng 5/2021 với số tiền là 240.000.000 đồng không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
Ngày 08/5/2019, ông Đ1 và bà H1 ký hợp đồng chuyển nhượng căn nhà cấp 04 gắn liền với di n tích đất 43.2m2 (di n tích đất đo đ c thực tế 40,8m2) thu c thửa 321, t bản đồ số 30-4, tọa l c t i số 17 đư ng H, khu 4, phư ng P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho ông H. Trong quá trình giải quyết vụ án và t i phiên tòa sơ thẩm, ông Đ1, bà H1 và ông H đều thống nhất xác đ nh ông H đ trả đủ tiền mua nhà cho ông Đ1 và ông Đ1 cũng đ giao nhà cho ông H quản lý sử dụng từ ngày 08/5/2019. Do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Đ đang đứng tên nên ông Đ1 chưa làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên cho ông H theo đúng quy đ nh pháp luật được. Ông Đ1, bà H, ông H và các đương sự khác không ai yêu c u Tòa án xem xét giải quyết đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/5/2019 giữa ông Đ1, bà H1 và ông H nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là phù hợp. Nếu giữa ông Đ1 với ông H và bà H1 có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng m t vụ ki n khác khi các đương sự có đơn yêu c u.
Từ những phân tích trên, kháng ngh của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố T, kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ và kháng cáo của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh N là không có căn cứ chấp nhận.
Quan điểm của đ i di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương t i phiên tòa phúc thẩm là chưa phù hợp.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ là ngư i cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên theo quy đ nh t i điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thư ng vụ Quốc h i khóa 14 quy đ nh về mức thu, miễn giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án thì ông Đ được miễn án phí phúc thẩm. Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh N phải ch u theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của B luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án,
1. Không chấp nhận yêu c u kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh N.
2. Không chấp nhận Quyết đ nh kháng ngh số 46/2021/QĐKNPT-VKS-DS ngày 16/6/2021 của Vi n trưởng Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2021/DS-ST ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Huỳnh Minh Đ được miễn án phí phúc thẩm.
- Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh N phải ch u số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền t m ứng án phí đ n p theo Biên lai thu tiền số 0056414 ngày 17/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
4. Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thành phố T; - TAND thành phố T; - VKSND thành phố T; - Các đương sự; - ưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Thị Thanh Tuy n |