vanban.org

Bản án 92/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị Trần Thanh T phạm tội “Cướp giật tài sản” .

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/07/2020 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị Trần Thanh T phạm tội “Cướp giật tài sản” .
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2021/HSST
Ngày 06 - 5 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Sơn Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Cẩm Vân

2. Ông Lê Ngọc Lâm

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2020/HSST ngày 24/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2021/QĐXXST-HS ngày 15/4/2021 đối với bị cáo:

Trần Thanh T (Tên gọi khác: Ba lùn); giới tính: nam; sinh năm: 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 100/4Bis A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: không. Con ông Trần T1 và bà Huỳnh Thị Thanh H. Có vợ tên Nguyễn Thị Mỹ P đã ly hôn và 01 con sinh năm 2012.

Nhân thân: Ngày 29/5/2015 Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 143/2015/HSST.Chấp hành xon án phạt tù ngày 26/04/2017, đã đóng án phí.

Tiền án, tiền sự: không

Tạm giam: 15/7/2020. (có mặt tại phiên tòa)

Bị hại:

1.Ông Phạm Huỳnh Đ; sinh năm 1999; địa chỉ:A3/218 A, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

2.Ông Trần Đăng K; sinh năm: 2001; địa chỉ: 68 A, phường B, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)

3. Ông Khưu Vĩnh H; sinh năm 1989; địa chỉ: 2A A, phường B, thành phố Thủ Đức. (có mặt)

4. Ông Đinh Duy T2; sinh năm 1991; địa chỉ: 104 A , Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Châu Văn K; sinh năm: 1954; địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, Long An. (vắng mặt)

2. Ông Các Văn L; sinh năm: 1995; địa chỉ: 114/2 A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

3. Ông Nguyễn Duy Q; sinh năm: 1984; địa chỉ: 402 A, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/7/2020, Trần Thanh T một mình điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển số: 59G1-053.06 tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Khi đang lưu thông trên cầu A, Phường B, quận C, T phát hiện anh Phạm Huỳnh Đ (sinh năm 1999; Cư trú:A3/218 A, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) ngồi xe máy Grab do một người đàn ông chở, trên tay anh Đ có cầm 01 chiếc điện thoại di động Iphone11 Pro Max màu xanh, lợi dụng sơ hở nên T điều khiển xe máy chạy lên song song áp sát bên phải xe anh Đ rồi dùng tay trái giật được điện thoại của anh Đ, rồi tăng ga xe quẹo phải vào trong hẻm của đường Điện Biên Phủ trốn thoát, anh Đ đuổi theo nhưng không theo kịp. Ngay lúc đó, Tổ Hình sự đặc nhiệm Công an quận Bình Thạnh đang tuần tra phát hiện và đuổi theo T, khi tới trước địa chỉ 69 A, Phường B, quận C thì bị Tổ Hình sự đặc nhiệm ép xe máy T, T bỏ xe chạy bộ được khoảng 50 mét thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng điện thoại Iphone 11 Pro Max T vừa cướp giật của anh Đt. Vụ việc được công an Phường 17, quận Bình Thạnh lập hồ sơ chuyển cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh thụ lý giải quyết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Thanh T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, T còn khai nhận thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản tại Bình Thạnh như sau:

Vụ thứ 1: khoảng 12 giờ 00 phút ngày 14/7/2020, Trần Thanh T một mình điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển số: 59G1-053.06 khi đến trước trạm xe buýt số 172C A, Phường B, quận C, T phát hiện anh Trần Đăng K (sinh năm: 2001; cư trú: 68 A, phường B, thành phố C, tỉnh Bình Dương) đang đứng tại trạm xe buýt, trên tay cầm điện thoại Iphone 11 Pro Max 256GB màu Gold, T điều khiển xe vòng ngược trở lại rồi áp sát phía trước mặt anh K, dùng tay trái giật được điện thoại trên tay anh K và tăng ga xe quẹo trái vào trong hẻm để thoát ra hướng đường Xô Viêt Nghệ Tĩnh, sau đó T chạy về nhà ở Quận 1. Đến chiều cùng ngày, T một mình đem điện thoại mới cưới giật được đến khu vực chợ Gò Vấp bán cho một người thanh niên tên Q (không rõ lai lịch) ở ngoài đường với giá 8.000.000 đồng.

Vụ thứ 2: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/5/2020, Trần Thanh T một mình điều khiển xe Honda Wave Alpha màu đen, biển số: 59F1-742.44 đến cây xăng Cosmeco, địa chỉ 178/9 A, Phường B, quận C dừng lại quán nước ven đường thì phát hiện anh Khưu Vĩnh H (sinh năm 1989; cư trú: 2A A, phường B, thành phố Thủ Đức) trên tay cầm điện thoại Iphone 11 Pro để sử dụng. T quan sát anh H lợi dụng để cướp giật , T vào vị trí trụ xăng để đổ xăng nhằm đánh lạc hướng, khi đổ xăng xong, T điều khiển xe vòng sau lưng áp sát bên trái anh H, dùng tay trái giật điện thoại Iphone 11 Pro của anh H và nhanh chóng trốn thoát. Sau đó, T liên hệ và hẹn bán cho Q trước chợ Gò Vấp với giá 8.000.000 đồng.

Vụ thứ 3: vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13/6/2020, Trần Thanh T điều khiển xe Honda Wave Alpha màu đen, biển số: 59F1-742.44 dừng trên lề thì phát hiện anh Đinh Duy T2 (sinh năm 1991; cư trú: 104 A, Phường B, quận C) đang dừng xe trước số 51 A, Phường B, quận Bình Thạnh trên tay có sử dụng Iphone 11 màu trắng. Khi anh T2 đang nghe điện thoại thì T điều khiển xe ngược chiều với anh T2 áp sát bên trái anh T2, rồi dùng tay trái giật được chiếc điện thoại Iphone 11 của anh T2 và nhanh chống trốn thoát ra Đường Nguyễn Hữu Cảnh. Sau đó, T cũng liên hệ qua số điện thoại 081.555.5551 của Q và hẹn bán chiếc điện thoại Iphone 11 cho tên Q tại trước chợ Gò Vấp với giá 8.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 367/KLĐGTS-TCKH ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max - 256GB, màu Gold trị giá 25.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro Max - 64GB, màu xanh trị giá 20.000.000 đồng.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 354/KLĐGTS-TCKH ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro - 64GB trị giá 13.000.000 đồng.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 394/KLĐGTS-TCKH ngày 28 tháng 8 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro - 64GB trị giá 12.000.000 đồng.

Vật chứng:

- 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max - 64GB màu xanh, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phạm Huỳnh Đ là chủ sở hữu.

- 01 điện thoại di động Iphone 6S - 64GB màu Gold là điện thoại của Trần Thanh T dùng để liên lạc với tên Q để bán điện thoại mà T cướp giật được.

- 03 điện thoại di động gồm: 01 Iphone 11 Pro Max - 256GB của anh Trần Đăng K; 01 Iphone 11 Pro - 64GB của anh Khưu Vĩnh H; 01 Iphone 11 - 64GB của anh Đinh Duy T2 (chưa thu hồi được)

- 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 59G1 - 053.06.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh kết quả: Xe có số khung RLCUE3220-HY063706, số máy E3X9E-282213 nguyên thủy. Tuy nhiên số khung, số máy này chưa đăng ký, không tìm thấy dữ liệu tra cứu nên chưa được cấp biển số xe cho chiếc xe Yamaha Sirius. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có người sở hữu đến làm việc.

Đối với biển số 59G1 - 053.06, Cơ quan điều tra tiến hành qua xác minh kết quả: xe có số khung RLCE S940BY066991, số máy 1S94066994 do ông Châu Văn K (Sinh năm: 1954, HKTT: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Long An đứng tên chủ quyền; ông K mua lại từ tháng 01/2019 tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó làm thủ tục chuyển vùng, đăng ký biển số mới là 62P1 - 900.85, hiện tại ông K vẫn đang sử dụng chiếc xe này. Còn biển số cũ 59G1 - 053.06 khi làm thủ tục thì Cơ quan công an đã thu lại, hiện nay ông K không giữ biển số này.

Đối với xe mô tô Honda Wave Alpha màu đen, biển số 59F1 - 742.44: Trần Thanh T khai mượn của 01 người tên H (không rõ lai lịch) tại sòng bài trên đường Tôn Đản, Quận 4 nói là để đi mua đồ cá nhân nhưng T lại sử dụng đi cướp giật tài sản, sau khi sử dụng xong thì T đem về trả lại cho H. Tiến hành xác xác minh xe này: biển số 59F1-742.44 được cấp cho xe SH150I, số khung: RLHKF1439FY003071, số máy: KF14E0103116, đứng tên đăng ký xe là anh Các Văn L (sinh năm: 1995, địa chỉ: 114/2 A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre). Vào tháng 03/2019, anh L mua chiếc xe SH150I biển số 59F1-742.44, sau đó làm thủ tục sang tên và được cấp biển số mới là 71C3-366.49, hiện tại anh L; đang sử dụng chiếc xe này, còn biển số cũ 59F1-742.44 đã nộp lại cho Cơ quan công an khi làm thủ tục sang tên xe. Do đó xe mô tô Honda Wave Alpha gắn biển số 59F1-742.44 là biển số giả, không đủ cơ sở để truy xét đối tượng tên H.

Đối với số điện thoại 081.555.5551, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại công ty Vinaphone. Kết quả chủ thuê bao là Nguyễn Duy Q (sinh năm 1984, HKTT: 402 A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh).

Tại Cơ quan điều tra và qua tiến hành nhận dạng, đối chất. Trần Thanh T khai vào các ngày 14/7/2020, 16/5/2020, 13/6/2020 T cướp giật 03 điện thoại di động Iphone tại quận Bình Thạnh. Sau đó, T gọi qua số điện thoại 081.555.5551 của Q hẹn bán điện thoại tại trước chợ Gò Vấp, T không nói cho Q biết điện thoại do cướp giật được, Q đồng ý mua và trả tiền mặt cho T, T đã bán cho Q 03 điện thoại, mỗi lần bán được 8.000.000 đồng /01 cái điện thoại di động. Đối với Nguyễn Duy Q khai nhận là người đang sử dụng số thuê bao 081.555.5551, Q có quen biết Trần Thanh T khoảng tháng 4/2020 thông qua một người bạn tên T1 (không rõ lai lịch), thỉnh thoảng có gặp T uống cà phê, không quan hệ làm ăn gì khác, Q không thừa nhận đã mua 03 điện thoại Iphone từ Trần Thanh T. Trần Thanh T khai nhận việc giao dịch giữa T và Q chỉ có hai người biết, không có người thứ ba nào chứng kiến.

* Trách nhiệm dân sự:

Anh Trần Đăng K yêu cầu bồi thường thiệt hại Iphone 11 Pro Max số tiền 30.000.000 đồng.

Anh Đinh Duy T2 yêu cầu bồi thường thiệt hại Iphone 11 số tiền 12.000.000 đồng.

Anh Khưu Vĩnh H yêu cầu bồi thường thiệt hại Iphone 11 Pro số tiền 18.000.000 đồng.

Anh Phạm Huỳnh Đ đã nhận lại được tài sản bị cướp giật nên không yêu cầu đền bù thiệt hại về tài sản.

Tại Cáo trạng số 70/CT-VKSBTh ngày 18 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Kiểm sát viên đại diện cho Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi luận tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Thanh T mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng làm người công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra cũng như thẩm tra xét hỏi tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo Trần Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các nhân chứng, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, cho thấy: khoảng 12 giờ 30 ngày 15/7/2020, Trần Thanh T một mình điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển số 59G1 - 053.06, khi đang lưu thông trên cầu A, Phường B, quận C, T có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max của anh Phạm Huỳnh Đ. Ngoài ra, Trần Thanh T còn thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản cụ thể: Ngày 14/7/2020 tại trước trạm xe buýt số 172C đường A, Phường B, quận Bình Thạnh, T có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro max - 256GB của anh Trần Đăng K; ngày 16/5/2020 tại cây xăng Cosmeco địa chỉ 178/9 A, Phường B, quận C, T cướp giật 01 Iphone 11 Pro – 64G của anh Khưu Vĩnh H; ngày 13/6/2020 tại trước số 51 A, Phường B, quận C, T cướp giật 01 Iphone 11- 64GB của anh Đinh Duy T2. Tổng tài sản có giá trị là 70.000.000 đồng. Mục đích cướp giật tài sản là bán để có tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Trần Thanh T đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Đây là lỗi cố ý của bị cáo.

Hành vi sử dụng xe mô tô để cướp giật và trốn chạy khỏi sự truy đuổi của người dân và cơ quan chức năng gây hoang mang lo lắng, thậm chí có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe, tính mạng của người dân khi tham gia lưu thông trên đường phố thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Tổng giá trị tài sản sau 04 lần cướp giật là 70.000.000 đồng, thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

Do đó, hành vi của bị cáo Trần Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với Nguyễn Duy Q là người mà Trần Thanh T khai đã mua điện thoại di động cướp giật được của T, tuy nhiên Q không thừa nhận mua điện thoại Iphone từ bị cáo, không đủ cơ sở chứng minh T có bán điện thoại cướp giật được cho Q nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xử lý Nguyễn Duy Q về hành vi “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có cơ sở.

Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Trần Thanh T là đúng tội danh và khung hình phạt.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thanh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo T có nhân thân xấu từng bị xử phạt 03 năm về tội “Cướp giật tài sản” nay lại tiếp tục thực hiện 04 lần phạm tội nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xét thấy cần áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng:

Về trách nhiệm dân sự:

Anh Trần Đăng K yêu cầu bồi thường thiệt hại Iphone 11 Pro Max số tiền 30.000.000 đồng.

Anh Đinh Duy T2 yêu cầu bồi thường thiệt hại Iphone 11 số tiền 12.000.000 đồng.

Anh Khưu Vĩnh H yêu cầu bồi thường thiệt hại Iphone 11 Pro số tiền 18.000.000 đồng.

Anh Phạm Huỳnh Đ đã nhận lại được tài sản bị cướp giật nên không yêu cầu đền bù thiệt hại về tài sản nên HĐXX không xét.

Tại phiên tòa: Bị cáo tự nguyện bồi thường như yêu cầu của ba bị hại Trần Đăng K, Đinh Duy T2, Khưu Vĩnh H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng:

- 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max - 64GB màu xanh, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phạm Huỳnh Đ là chủ sở hữu. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 điện thoại di động Iphone 6S - 64GB màu gold là điện thoại của Trần Thành T dùng liên lạc với tên Q để bán điện thoại mà T cướp giật được. Là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 59G1 - 053.06 Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có người sở hữu đến làm việc. Cần giao cơ quan thi hành án có thẩm quyền đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với: 01 xe gắn máy Yamaha Sirius số khung RLCUE3220-HY063706, số máy E3X9E-282213. Hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày đăng báo không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước xe gắn máy trên và tịch thu tiêu hủy biển số xe 59G1-053.06 vì là biển số giả.

Đối với xe mô tô Honda Wave Alpha màu đen gắn biển số 59F1-742.44 là biển số giả, bị cáo mượn và đã trả cho bạn là đối tượng tên H, không đủ cơ sở để truy xét đối tượng tên H không rõ lai lịch. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Các Văn L đã trình bày vào tháng 03/2019, anh L mua chiếc xe SH150I biển số 59F1-742.44, sau đó làm thủ tục sang tên và được cấp biển số mới là 71C3-366.49, hiện tại anh L đang sử dụng chiếc xe này, còn biển số cũ 59F1-742.44 đã nộp lại cho Cơ quan công an khi làm thủ tục sang tên xe. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/ 11 /2020 giữa Công an quận Bình Thạnh và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh )

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị Trần Thanh T phạm tội “Cướp giật tài sản” .

- Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T 05 năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 15/07/2020

2/ Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015;

* Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 6S - 64GB màu gold.

*Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 59G1-053.06

*Giao cơ quan thi hành án cơ thẩm quyền đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với: 01 xe mô tô Yamaha Sirius số khung RLCUE3220-HY063706, số máy E3X9E-282213. Hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày đăng báo không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu xe gắn máy trên nộp vào ngân sách Nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/ 11 /2020 giữa Công an quận Bình Thạnh và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh )

3/ Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại Trần Đăng K số tiền 30.000.000 đồng.

Ghi nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại Đinh Duy T2 số tiền 12.000.000 đồng.

Ghi nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại Khưu Vĩnh H số tiền 18.000.000 đồng.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án cơ thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực, Bị hại có đơn yêu cầu thi hành án và Cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành án nếu bị cáo Trần Thanh T không thực hiện nghĩa vụ bồi thường số tiền trên thì còn phải trả cho những bị hại tiền lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4/Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ