- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2021/HSST Ngày: 28/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Bá Ngọc
Ông Nguyễn Bá Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Thanh Oai, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Mai Lương Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2021/TLST - HS ngày 02/12/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thị H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 17 tháng 02 năm 2001 tại: xã A, H, Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã A, huyện H, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn C, xã A, huyện H, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Bùi Đăng X – sinh năm: 1973; Họ tên mẹ: Bùi Thị D – sinh năm: 1977; Anh, chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ 2; Chồng: Không có; Con: Có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Tại phiên tòa có mặt.
Người bị hại: Chị Mai Thùy T, sinh năm 2000.
Hiện trú tại: Căn hộ số 904, tòa nhà HH03E, Khu đô thị H, xã C, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Mai Thùy T sinh năm 2000, hiện trú tại: Căn hộ số 904, tòa nhà HH03E, Khu đô thị H, xã C, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội có cho Bùi Thị H sinh năm 2001, trú tại: thôn Ngãi Cầu, xã A, huyện H, Thành phố Hà Nội thuê phòng và ở cùng trong căn hộ số 904, tòa nhà HH03E nói trên từ ngày 21/5/2021.
Do thiếu tiền tiêu xài, lợi dụng sơ hở của chị T, khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/7/2021, H đã lấy trộm 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air của chị T để bên trong tủ quần áo phòng ngủ, 01 căn cước công dân và 01 đăng ký xe mô tô BKS 18H1-602.56 đều mang tên Mai Thùy T. Sau đó, H đã mang chiếc máy tính trên đến thuê anh Nguyễn Xuân V, sinh năm 1971, hiện trú tại: Căn hộ số 2606, tòa nhà CT4, chung cư The Pride, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội để cài đặt lại phần mềm nhằm phá mật khẩu của máy tính với mục đích để bán chiếc máy tính này. Anh V yêu cầu H cung cấp các thông số cài đặt trước đó của máy tính nhưng H không cung cấp được nên anh V đã không cài đặt lại được phần mềm, không phá được mật khẩu và yêu cầu H lấy lại chiếc máy tính này. H đã thuê một shipper không rõ tên tuổi địa chỉ đến nhà anh V lấy chiếc máy tính và gửi máy tính tại cửa hàng “Long tay trái” của anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1994, hiện trú tại: ki ốt số 24, tòa nhà HH02E, khu đô thị H, xã C, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội. Khi chị T phát hiện bị mất máy tính đã hỏi H và H thừa nhận lấy trộm máy tính, chị T yêu cầu H trả lại chiếc máy tính trên. H nói với chị T máy tính đang gửi ở cửa hàng anh L nên cùng ngày chị T đến cửa hàng của anh L để lấy chiếc máy tính. Ngày 02/8/2021, H trả lại chị T căn cước công dân và đăng kí xe mô tô. Chị T đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc máy tính xách tay, căn cước công dân và đăng ký xe mô tô.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Oai kết luận:
“01 chiếc máy tính xách tay Laptop Macbook Air màu bạc, tại thời điểm định giá ngày 24/7/2021, có giá trị 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng).”
- Đối với anh Nguyễn Hoàng L là người đã cất giữ chiếc máy tính hộ H và anh Nguyễn Xuân V là người nhận cài lại phần mềm máy tính cho H không biết chiếc máy tính do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
- Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định chị Mai Thùy T là chủ sở hữu của chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air, căn cước công dân và đăng kí xe mô tô BKS 18H1-602.56 nên ngày 10/10/2021 Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chị T.
- Về trách nhiệm dân sự: Chị Mai Thùy T đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường gì.
Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 29/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai truy tố bị cáo Bùi Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” Căn cứ theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung phản ánh của bản cáo trạng và đều tỏ ra ăn năn hối cải, xin được hưởng sự khoan hồng của Pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị áp dụng:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i,n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị H từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Cho hưởng án treo, thời gian thửa thách từ 24 - 30 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 24/7/2021, lợi dụng sơ hở của chị Mai Thùy T, Bùi Thị H đã lén lút lấy trộm 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air màu bạc có giá trị 22.000.000 đồng, 01 căn cước công dân và 01 đăng kí xe mô tô BKS 18H1-602.56 mang tên Mai Thùy T. Sau đó, H mang chiếc máy tính xách tay trên đến thuê anh Nguyễn Xuân V cài lại phần mềm nhằm phá mật khẩu của máy tính với mục đích để bán lấy tiền nhưng không được nên mang về gửi tại cửa hàng của anh Nguyễn Hoàng L. Do bị chị T truy hỏi, H đã thú nhận với chị T về việc trộm cắp. Cùng ngày, chị T đã đến cửa hàng lấy lại chiếc máy tính trên. Ngày 02/8/2021, H trả lại chị T căn cước công dân và đăng kí xe mô tô. Chị T đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc máy tính xách tay, căn cước công dân và đăng ký xe mô tô.
Đủ cơ sở kết luận Bùi Thị H phạm tội "Trộm cắp tài sản", theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Gây mất trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nhất định để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Khi phạm tội bị cáo đang mang thai; Hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại.
Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương với một mức hình phạt có điều kiện cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản. Hiện không có yêu cầu bồi thường gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Vụ án trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo tính hợp pháp của các quyết định tố tụng và đảm bảo đúng trình tự tố tụng.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
1- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Các Điều 106, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị H 9 (chín) tháng tù. Cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/12/2021.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Giao bị cáo Bùi Thị H được hưởng án treo cho UBND xã A, huyện H, Thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú để theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản. Hiện không có yêu cầu bồi thường gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt. Có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 28 tháng 12 năm 2021.
Người bị hại vắng mặt. Có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án. Hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Thanh Oai; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ NguyÔn B¸ Th¾ng |