vanban.org

Bản án 92/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

* Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Lại Khành Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2021/HS-ST
Ngày 20-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hoàng Liễu, bà Trần Thị Đúng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lại Thế Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lại Khành Th; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C4/106 ấp 3, xã Phong Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: E5/136 ấp 5, xã Đa Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Lại Khánh S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (Sinh năm 1958); Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 31/5/2011 bị Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 25/3/2013 hoàn Th thời gian cai nghiện bắt buộc.

- Ngày 06/7/2015 bị Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 15/5/2017 chấp hành xong thời gian cai nghiện.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2020 đến nay (có mặt);

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Cao Hoài L, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Số D13/39 ấp 4, xã Hưng L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2/ Ông Hà Tấn L, sinh năm 1981

Nơi cư trú: Số E10/220L ấp 6, xã Tân Nh, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

3/ Ông Nguyễn Quốc Th, sinh năm 1971.

Nơi cư trú: D16/30 Đinh Đ, ấp 6, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

4/ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1979.

Nơi cư trú: 363/9/2 đường Chiến L, phường Bình A, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

5/ Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1996.

Nơi cư trú: Số E11/326/2 ấp 5, xã Đa Ph, huyện B, Th phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

6/ Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1995.

Nơi cư trú: Số E11/326/2 ấp 5, xã Đa Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

7/ Ông Thái Thanh H, sinh năm 1989.

Nơi cư trú: Số A26/3 ấp 1, xã Hưng L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

8/ Ông Trần Thanh T, sinh năm 1980.

Nơi cư trú: E2/38 ấp 5, xã Đa Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

9/ Ông Nguyễn Hồng Trung T, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: E10/274/1 tổ 10, ấp 5, xã Đa Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

10/ Bà Nguyễn Hoàng Thanh Ng, sinh năm 1997.

Nơi cư trú: Nhà không số, tổ 6, ấp 5, xã Đa Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

* Người làm chứng:

1/ Bà Hứa Thị B, sinh năm 1956.

Nơi cư trú: Số E6/166/B7 ấp 5, xã Đa Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2/ Ông Lý V, sinh năm 1981.

Nơi cư trú: Số E6/166B ấp 5, xã Đa Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

3/ Ông Lý D, sinh năm 1959

Nơi cư trú: Kế số nhà E6/166B tổ 6, ấp 5, xã Đa Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

4/ Ông Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1991.

Nơi cư trú: A2/53 ấp 1, xã Phong Ph, huyện B, Thành Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 02/7/2020, ông Cao Hoài L là chuyên viên tổ quản lý trật tự đô thị xã Đa Ph, huyện B, Th phố Hồ Chí Minh điều khiển xe mô tô chở ông Hà Tấn L là Bí thư Đảng ủy xã Đa Ph đi kiểm tra tình hình đất đai xây dựng trên địa bàn xã Đa Ph, huyện B. Khi đến đường hẻm thuộc tổ 6, ấp 5, xã Đa Ph thì gặp Lại Khành Th đang ngồi uống rượu bia với Nguyễn Hoàng Thanh Ng và một số người. Ông L điều khiển xe chở ông Tân L đi vào trong hẻm rồi quay ra thì xảy ra mâu thuẫn với Lại Khành Th do Th cho rằng ông L đá con chó nhà mình. Th đứng chặn đầu xe và dùng tay đánh nhiều cái vào mặt và đầu ông L. Ông Hà Tấn L ngồi sau cũng bị Lại Khành Th đánh trúng vào mặt. Sau đó, người dân can ngăn Th thì ông L điều khiển xe chở ông Tấn L ra ngoài đường và gọi điện thoại báo Công an xã Đa Ph đến giải quyết.

Sau khi nhận tin báo, đồng chí Nguyễn Quốc Th (Phó trưởng Công an xã Đa Ph) cùng tổ công tác gồm các đồng chí Công an nhân dân chính quy Nguyễn Văn V, Đặng Văn Đ, Nguyễn Văn G, Thái Thanh H, Trần Thanh T và các đồng chí Công an viên Ngô Thanh S, Nguyễn Hồng Trung T đến hiện trường để giải quyết vụ việc. Các Th tổ công tác đều mặc trang phục đúng quy định và sử dụng xe ô tô Cảnh sát biển số 50A-0102 và xe máy đến giải quyết vụ việc. Khi tổ công tác đến hẻm thuộc tổ 6, ấp 5, xã Đa Ph thì được ông L, ông Tấn L dẫn đến nơi xảy ra vụ việc. Lúc này, Lại Khành Th cầm 01 cái xẻng bằng kim loại chạy ra định đuổi đánh ông L, ông Tấn L nhưng thấy lực lượng Công an nên Th bỏ cái xẻng xuống đất. Tổ công tác tiến hành tiếp xúc làm việc với Th và những người có mặt tại hiện trường để làm rõ nội dung vụ việc. Khi đồng chí Quốc Th cùng Th đi vào cuối hẻm để Th diễn giải lại sự việc thì Nguyễn Hoàng Thanh Ng cầm 01 cái micro đánh vào đầu của ông Lâm nhưng trúng mũ bảo hiểm làm gãy micro. Thấy vậy, các đồng chí G, H, T, T đến can ngăn và đưa Ng lên xe ô tô Cảnh sát để chở về trụ sở Công an xã Đa Ph làm việc. Sau đó, Lại Khành Th chạy đến mở cửa xe ô tô, kéo Ngân xuống khỏi xe ô tô Cảnh sát và đưa Ngvào nhà E6/166B Ấp 5, xã Đa Ph để ngăn cản tổ công tác đưa Ng về trụ sở làm việc. Tiếp theo Nguyễn Hoàng Thanh Ng chỉ tay về phía đồng chí H và nói “thằng chó đội nón bảo hiểm đánh em”. Lại Khánh Th liền xông đến định đánh đồng chí H thì bị các đồng chí V, G, Đ, T can ngăn, đẩy Th vào vách tường và khống chế Th thì bị Th dùng đầu húc mạnh vào mặt của đồng chí V làm rách da, chảy máu ở phía trên mắt phải. Sau đó, tổ công tác Công an xã Đa Ph khống chế Th đưa về trụ sở làm việc, lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 775/Tg.T20 của Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/08/2020 kết luận thương tích của đồng chí Nguyễn Văn V như sau:

“Chấn thương phần mềm gây rách, đứt da vùng cung mày phải đã được điều trị khâu vết thương, hiện còn một sẹo phẳng kích thước 2.8x0.1cm, tình trạng ổn định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%.

Thương tích do vật tày, vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra. Dùng đầu đối tượng húc vào đầu đương sự có thể gây ra được”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Lại Khành Th Th khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, phù hợp với lời khai của nhân chứng, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, Th trình bày trong lúc bị khống chế, Th bị đồng chí Việt bóp cổ nên không thở được, Th yêu cầu đồng chí Việt thả tay ra nhưng đồng chí Việt không đồng ý nên Th húc vào đầu đồng chí Việt để đồng chí V không tiếp tục bóp cổ Th.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 12 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Th phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lại Khành Th về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với Nguyễn Hoàng Thanh Ng có hành vi dùng micro đánh vào đầu ông Cao Hoài L nhưng Ng không biết ông L đang thực hiện công vụ. Đồng thời, ông L cũng không bị thương tích gì nên hành vi của Ng không cấu Th tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Ngân về hành vi “xâm hại đến sức khỏe của người khác” theo quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 330; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lại Khành Th từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Vật chứng: đề nghị lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) USB nhãn hiệu Toshiba màu trắng có dung lượng 02GB chuyển kèm hồ sơ vụ án. Tịch thu tiêu hủy 01 cái xẻng cán gỗ, lưỡi bằng kim loại.

Về dân sự: đề nghị ghi nhận ông Nguyễn Văn V, ông Cao Hoài L và ông Hà Tấn L không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 02/7/2020 tại khu vực hẻm thuộc tổ 6, ấp 5, xã Đa Ph huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Lại Khành Th có hành vi trái pháp luật đe dọa dùng vũ lực, dùng vũ lực tấn công tổ công tác Công an xã Đa Ph đang giải quyết vụ việc do Lại Khành Th gây thương tích cho ông Cao Hoài L và ông Hà Tấn L. Cụ thể, khi tổ công tác đang làm việc thì Nguyễn Hoàng Thanh Ng có hành vi dùng 01 cái micro đánh vào đầu ông Cao Hoài L nên bị tổ công tác khống chế đưa lên xe ô tô cảnh sát để chở về trụ sở Công an xã Đa Ph làm việc thì Lại Khành Th có hành vi ngăn cản việc thi hành công vụ của tổ công tác, bị cáo tự ý mở cửa xe ô tô, kéo Ng ra khỏi xe cảnh sát. Tiếp sau đó, bị cáo có hành vi dùng vũ lực lao vào định tấn công đánh đồng chí Hòa thì bị lực lượng công an khống chế. Trong lúc bị khống chế bắt giữ thì bị cáo Lại Khành Th tiếp tục có hành vi dùng đầu của mình húc vào mặt của đồng chí Nguyễn Văn V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể qua giám định là 3%. Khi thực hiện hành vi trái pháp luật bị cáo Lại Khành Th biết rõ các đồng chí trong tổ công tác là những người đang thực hiện công vụ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm, không chấp hành mệnh lệnh của người thi hành công vụ, cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ nên hành vi của bị cáo đã cấu tội “Chống người thi hành công vụ”.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm hoạt động bình thường, đúng đắn và làm giảm hiệu quả quản lý của các cơ quan Nhà nước, gây ảnh hưởng tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người trưởng Th, có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng thể hiện bản tính cá nhân mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Lại Khành Th đã đủ yếu tố cấu Th tội “Chống người thi hành công vụ” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xét thấy, cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét thấy, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Th khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có Th tích bắt bắt đối tượng cướp giật tài sản được Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí minh tặng Giấy khen vào ngày 30/8/2017 nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ 01 phần hình phạt khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, xét thấy bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần bị áp dụng biệp pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên cần lưu ý khi quyết định hình phạt.

Về vật chứng vụ án thu giữ gồm: đối với 01 (một) USB nhãn hiệu Toshiba lưu giữ video diễn biến sự việc có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Đây là chứng cứ, chứng minh tội phạm nên tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án;

Đối với 01 cái xẻng cán gỗ, lưỡi bằng kim loại bị cáo sử dụng làm phương tiện có liên quan đến tội phạm nên áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về dân sự: các đương sự không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

* Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử phạt bị cáo Lại Khành Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2020.

- Về vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy 01 cái xẻng cán gỗ, lưỡi bằng kim loại

(Vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/3/2021 giữa công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Về án phí: bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;

- Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ