- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Hồng H tranh chấp HĐ hụi Trần Thị Mỹ L"
- Tòa quyết gì? Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Thu Huyền được ly hôn với anh Đinh Nguyễn Nhật Tiến.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 92/2021/DS- ST Ngày: 23/4/2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Xuân Bình.
Bà Nguyễn Thị Thúy Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên toà: Không tham gia.
Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 343/2020/TLST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi”
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2021/QĐST-DS ngày 09/4/2021, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1968
Cư trú: ấp Hưng Hòa, xã Long Vĩnh, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang
+ Bị đơn: Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1972
Cư trú: ấp Hưng Hòa, xã Long Vĩnh, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang.
(Chị H có mặt, chị L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị H trình bày:
Vào ngày 04/4/2018 âm lịch, chị Trần Thị Mỹ L do cần vốn trả nợ Ngân hàng có đến nhà mượn chị số tiền 115.000.000đồng, chị L cam kết sau 03 tháng trả lại kể từ ngày mượn, hạn trả nợ ngày 04/7/2018 âm lịch sẽ trả tiền đủ cho chị. Trong khi mượn tiền, chị và chị Linh có thỏa thuận trả lãi nhưng chị L nói đừng ghi trong giấy nợ nhưng thực tế hai bên có thỏa thuận trả lãi là 06%/tháng nhưng đến nay chị L không trả lãi cũng như không trả vốn và chị L có viết giấy biên nhận tiền cho chị.
Ngoài ra, chị L còn tham gia chơi hai dây hụi do chị làm đầu thảo, cụ thể:
Dây hụi thứ nhất: Hụi tháng 2.000.000đồng, hụi 17 phần, khui ngày 12/02/2017 âm lịch, mãn hụi ngày 12/5/2018 âm lịch, chị Linh tham gia một phần, chị hốt vào kỳ khui thứ 4 ngày 12/5/2017 âm lịch, chị L hốt số tiền 21.900.000đồng. Sau khi hốt hụi chị L phải đóng lại 13 kỳ hụi chết với số tiền 26.000.000đồng, chị L đã đóng được 11 kỳ, còn nợ lại 02 kỳ là 4.000.000đồng.
Dây hụi thứ hai: Hụi tháng 5.000.000đồng, hụi gồm 24 phần, chị L tham gia một phần, dây hụi khui ngày 15/11/2016 âm lịch, mãn hụi ngày 15/9/2018 âm lịch, chị Linh hốt hụi ở lần khui thứ 3 ngày 15/01/2017 âm lịch, chị hốt được số tiền 75.750.000đồng. Sau khi hốt chị Linh phải đóng lại 21 kỳ hụi chết nhưng chị đóng được 15 kỳ với số tiền 75.000.000đồng hụi chết, còn nợ lại 06 kỳ hụi chết với số tiền 30.000.000đồng.
Nay, chị yêu cầu chị L trả số tiền vay là 115.000.000đồng và tiền lãi tính từ 04/4/2018 âm lịch đến khi Tòa án xét xử, tạm tính đến ngày xét xử 12/3/2021 âm lịch (nhầm ngày 23/4/2021 dương lịch) là 36 tháng, lãi suất 0,83%/tháng là 115.000.000đồng x 0,83%/tháng x 36 tháng = 34.362.000đồng, tổng cộng vốn, lãi là 149.362.000đồng và số tiền hụi là 34.000.000đồng, đối với tiền hụi, chị không yêu cầu trả lãi.
Tổng cộng chị L còn nợ tiền mượn và tiền hụi là 183.362.000đồng, chị yêu cầu trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
* Bị đơn chị Trần Thị Mỹ L vắng mặt, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn chị Trần Thị Mỹ L vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Linh.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Hồng H và chị Trần Thị Mỹ L là tranh chấp hợp đồng hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 463, 471 Bộ luật dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H yêu cầu chị L trả số tiền nợ hụi là 34.000.000đồng và tiền vay là 115.000.000đồng, tiền lãi tính từ 04/4/2018 âm lịch đến khi Tòa án xét xử, tạm tính đến ngày xét xử 12/3/2021 âm lịch (nhầm ngày 23/4/2021 dương lịch) là 36 tháng, lãi suất 0,83%/tháng là 115.000.000đồng x 0,83%/tháng x 36 tháng = 34.362.000đồng, tổng cộng vốn, lãi là 149.362.000đồng là có cơ sở bởi lẽ giữa chị H, chị L có xác lập hợp đồng góp hụi và hợp đồng vay tài sản với chứng cứ là biên nhận hốt hụi ngày 20/5/2017 âm lịch, biên nhận hốt hụi ngày 25/11/2017 âm lịch do chị L ký tên xác nhận và được chị L thừa nhận có tham gia chơi hụi, còn nợ chị H số tiền 34.000.000đồng tại biên bản hòa giải 01/01/2020 của Ban hòa giải ấp Hưng Hòa, xã Long Vĩnh, huyện Gò Công Tây.
Đối với tiền vay là 115.000.000đồng chị L không thừa nhận có mượn của chị H số tiền này tại biên bản hòa giải của ấp Hưng Hòa ngày 01/01/2020, tuy nhiên chị H cung cấp chứng cứ là biên nhận ngày 04/4/2018 âm lịch thể hiện nội dung “tôi tên Trần Thị Mỹ L 1972 hiện ngụ ấp Hương Hòa, xã Long Vĩnh, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang, tôi có đến nhà chị H mượn số tiền 115.000.000đồng (một trăm mười lăm triệu đồng), lý do trả nợ nhà nước, thời gian 03 tháng, tôi hoàn trả lại số tiền trên” người nhận do chị L ký và ghi rõ họ tên. Tòa án nhiều lần mời chị L đến trình bày ý kiến, tham gia tố tụng cũng như cung cấp chứng cứ chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng chị Linh vắng mặt xem như từ bỏ quyền chứng minh của mình cũng như chị không phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử cần buộc chị Linh có nghĩa vụ trả cho chị Hạnh số tiền nợ hụi là 34.000.000đồng và tiền vay là 115.000.000đồng, tiền lãi là 34.362.000đồng, tổng cộng vốn, lãi là 183.362.000đồng khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với Điều 466 Bộ luật dân sự và Điều 21 và Điều 22 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39; Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều Điều 463, Điều 466, Điều 357 Bộ luật dân sự 2015;
- Áp dụng nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng H.
Buộc chị Trần Thị Mỹ Linh có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Hồng H số tiền hụi là 34.000.000đồng, tiền vay là 115.000.000đồng và tiền lãi của số tiền vay là 34.362.000đồng, tổng cộng là 183.362.000đồng (Một trăm tám mươi ba triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn đồng). Thời gian trả khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị H cho đến khi thi hành án xong, chị Linh còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
* Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Chị Trần Thị Mỹ L phải chịu số tiền 9.168.000đồng (Chín triệu một trăm sáu mươi tám ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
+ Hoàn lại cho chị Nguyễn Thị Hồng H số tiền tạm ứng án phí 4.418.000đồng (Bốn triệu bốn trăm mười tám ngàn đồng) theo biên lai số 0017055 ngày 21/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm, đối với chị L kháng cáo tính từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa * Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tiền Giang;
- VKSND huyện GCT;
(ĐÃ KÝ)
- Chi cục THADS huyện GCT;
- Ñöông söï;
- Löu hoà sô.
Phan Thanh Bình
Về nội dung: Tại phiên tòa, chị Huyền xin ly hôn, nguyên nhân do anh Tiến có nhiều bất đồng trong cuộc sống vợ chồng, anh Tiến bảo chị nghỉ việc ở Sài Gòn về quê bên nhà của anh Tiến để làm, anh Tiến bỏ chị ra ngoài sống riêng 02 lần, không cần sự đồng ý của chị. Ngoài ra, chị và anh Tiến hay cải vả, gây gỗ về vấn đề tiền bạc. Từ tháng 10/2016 đến nay anh Tiến đã bỏ chị về sống với cha mẹ anh, không còn quan tâm gì đến chị nữa nên anh chị đã ly thân từ tháng 10/2016 đến nay. Nay, chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, chị và anh Tiến không còn tình cảm với nhau, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Tiến. Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa, anh Tiến thừa nhận mâu thuẫn chị Huyền trình bày là có nhưng do vợ cố chấp, vợ tự động bắt con đi mà không hỏi ý kiến của ai, anh bỏ đi 03 lần là để vợ nhận ra cái sai của mình.
Xét thấy mâu thuẫn ban đầu không lớn nhưng anh chị không khắc phục được để kéo dài làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được nên anh chị đã ly thân từ tháng 10/2016 đến nay, anh Tiến thừa nhận những mâu thuẫn mà chị Huyền trình bày là có nhưng anh không có biện pháp hàn gắn tình cảm, trong thời gian ly thân cũng như trong thời gian Tòa án hòa giải đoàn tụ, anh cũng không chủ động hàn gắn với chị Huyền. Hơn nữa, trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ cũng không có kết quả. Anh Tiến không đồng ý ly hôn, anh đưa ra thời gian để hàn gắn đến cuối năm 2017 nhưng với điều kiện chị Huyền thay đổi thì anh sẽ thay đổi. Lời trình bày nêu trên cho thấy anh Tiến cho thấy anh không còn tha thiết gì đến tình cảm vợ chồng cũng như hạnh phúc gia đình. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Huyền yêu cầu ly hôn với anh Tiến là hoàn toàn có căn cứ cần được chấp nhận phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Đinh Ngọc Quỳnh Chi, sinh ngày 18/3/2015 hiện đang sống với anh Tiến, ông Tửu, bà Nga. Ly hôn, chị Huyền yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Chi; không yêu cầu anh Tiến cấp dưỡng nuôi con. Anh Tiến cũng yêu cầu được nuôi cháu Chi; không yêu cầu chị Huyền cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu được nuôi con của chị Huyền là có cơ sở bởi cháu Quỳnh Chi, sinh ngày 18/3/2015 đến nay cháu mới hơn 02 tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Mặc khác, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Chi của anh chị cũng như có xem xét đến hoàn cảnh, môi trường sống của cháu Chi để xét yêu cầu nuôi con của anh Tiến, chị Huyền. Từ nhận định nêu trên, cần giao cháu Quỳnh Chi cho chị Huyền nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Tuy nhiên, cháu Quỳnh Chi hiện đang sống với anh Tiến, vì công việc nên ông Đinh Văn Tửu và bà Nguyễn Thị Nga là ông bà nội của cháu trực tiếp nuôi dưỡng. Do cháu Quỳnh Chi được giao cho chị Huyền nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử cần buộc anh Tiến, ông Tửu, bà Nga giao cháu Quỳnh Chi cho chị Huyền trực tiếp nuôi dưỡng, giao ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, do chị Huyền không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày, anh Tiến thừa nhận những mâu thuẫn mà chị Huyền trình bày, anh xin đến cuối năm 2017 sẽ đoàn tụ nhưng chị Huyền cũng phải sửa đổi thì anh sẽ sửa đổi để hàn gắn như vậy, anh Tiến không có thiện chí trong việc vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huyền. Về con chung, chị Huyền tha thiết được nuôi dưỡng cháu Quỳnh Chi, chị có đủ điều kiện để được nuôi cháu Chi tốt nhất, hiện chị đang công tác tại Chi cục thuế quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh, có thu nhập và nơi ở ổn định, hơn nữa cháu Quỳnh Chi, sinh ngày 18/3/2015 hơn 02 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Huyền được nuôi dưỡng cháu Quỳnh Chi, không yêu cầu anh Tiến cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Huyền, anh Tiến khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Huyền phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Huyền.
- Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Thu Huyền được ly hôn với anh Đinh Nguyễn Nhật Tiến.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu Huyền được nuôi dưỡng con chung tên Đinh Ngọc Quỳnh Chi, sinh ngày 18/3/2015. Chị Huyền không yêu cầu anh Tiến cấp dưỡng nuôi con.
Buộc anh Đinh Nguyễn Nhật Tiến, ông Đinh Văn Tửu và bà Nguyễn Thị Nga có nghĩa vụ giao cháu Quỳnh Chi cho chị Huyền nuôi dưỡng, giao ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về án phí HNST:
Chị Nguyễn Thị Thu Huyền phải chịu số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng chị được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đồng theo biên lai số 34889 ngày 13/2/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo. Như vậy, chị Huyền đã nộp xong.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Tửu kháng cáo kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Án tuyên và kết thúc cùng ngày./.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh TG; - VKSND huyeän Chợ Gạo; - C.c. THADS huyện CG ; - Ñöông söï (ñeå thi haønh); - UBND xã Anh Thạnh Thủy;. - Löu hoà sô. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thanh Bình |