- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Dinh Hau - Trom cap - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Đình H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 92/2020/HSST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
Ngày: 21/9/2020
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÂM VƢƠNG MỸ LINH
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông MAI GIA CÁT
2/ Bà NGÔ MỴ CHÂU
- Thư ký phiên tòa: Ông LÊ NGỌC XUÂN THIỆN – Thư ký Tòa án, Tòa án
nhân dân tỉnh Khánh Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông
HOÀNG ANH TRÍ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
PHAN ĐÌNH H (tên gọi khác: Ẹ, Trần Đình H) - Sinh năm 1996 tại Khánh Hòa
Nơi ĐKHKTT: 88/9 N, phường V, thành phố N, tỉnh K.
Chỗ ở: Hẻm 53 Tổ 14 N, phường N, thành phố N, tỉnh K.
Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Trần Đình H1 và bà Phan Thị T (sinh năm: 1969)
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 17/11/2011 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 18/10/2013).
Bản án số 215/2016/HS-ST ngày 09/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2017, đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/9/2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/10/2019 đến ngày 18/10/2019 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị bắt theo Quyết định truy nã ngày 29/3/2020, bị tạm giữ, tạm giam từ 29/3/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Klimov M (Quốc tịch: Nga) – Sinh năm 1996
Trú tại: Phòng 806, Khách sạn TTC, số 4 P, phường X, thành phố N, tỉnh K. Vắng mặt tại phiên tòa
- Người phiên dịch:
Ông Trần Đức T – Sinh năm: 1950
Trú tại: 07 NTT, thành phố N, tỉnh K.
Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Anh Phan Thanh P – Sinh năm 1995
Trú tại: 22 P, phường V, thành phố N, tỉnh K. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 09/10/2019, Phan Đình H đang ngồi chơi tại quán internet trên đường N, phường X, thành phố N thì được một người tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) rủ xuống bãi biển xem ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp, H đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu đen xám (không rõ biển kiểm soát) chở T đến khu vực bãi biển đối diện ngã ba đường TP – LL thì dừng lại. Tại đây, T phát hiện 1 túi xách màu trắng của anh Klimov M (Quốc tịch: Nga) đang để trên bãi cát không có người trông giữ. Thấy vậy, T bảo H đi xuống lấy trộm túi xách, còn T đứng trên vỉa hè giữ xe và cảnh giới. H đồng ý và đi xuống bãi biển, lấy trộm chiếc túi xách rồi bỏ chạy lên chỗ T. Khi H chạy được khoảng 5m thì bị người dân phát hiện, tri hô và bắt giữ được H cùng tang vật là chiếc túi xách bên trong có 1 điện thoại di động hiệu Samsung S8 Plus, 1 điện thoại di động hiệu Iphone 7, còn T thấy H bị bắt thì điều khiển xe bỏ chạy.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 541/HĐĐG ngày 10/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: 1 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 Plus (64GB) có giá trị là 4.753.200 đồng, 1 điện thoại di động hiệu Iphone 7 (32GB) có giá trị 9.126.300 đồng. Tổng giá trị tài sản là 13.879.500 đồng. Đối với túi xách lá màu trắng, do không đủ thông tin nên không định giá được.
Bản Cáo trạng số 117/CT-VKSKH-P1 ngày 31/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố Phan Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Đối với đối tượng tên T hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang đang tiếp tục điều tra xác minh, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Phan Đình H. Sau khi phân tích các tình tiết về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Phan Đình H mức hình phạt từ 12 đến 18 tháng tù giam. Về trách nhiệm dân sự, người bị hại có yêu cầu xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng hình sự: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Theo hồ sơ vụ án, người bị hại là ông Klimov M có yêu cầu được xét xử vắng mặt; người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của người bị hại và người làm chứng không gây cản trở đối với việc xét xử, căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Đình H thừa nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định rằng, vào ngày 09/10/2019, bị cáo Phan Đình H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 Plus (64GB) có giá trị là 4.753.200 đồng và chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 (32GB) có giá trị 9.126.300 đồng của anh Klimov M. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 13.879.500 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương và hình ảnh của đất nước đối với quốc tế, gây tâm lý hoang mang cho du khách nước ngoài. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhưng không tu dưỡng làm ăn chân chính mà vẫn tiếp tục phạm tội, sau khi phạm tội đã bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố. Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Đình H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại ngay cho người bị hại. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Theo hồ sơ vụ án, người bị hại là ông Klimov M xác định đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị chiếm đoạt. Người bị hại yêu cầu được xét xử vắng mặt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo Phan Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Đình H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo PHAN ĐÌNH H 1 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/3/2020, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/10/2019 đến ngày 18/10/2019.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo Phan Đình H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Khánh Hòa - Công an tỉnh Khánh Hòa - VKSND CC tại Đà Nẵng - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa - Sở Tư pháp tỉnh K/Hòa - Bị cáo + Người TGTT - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÂM VƢƠNG MỸ LINH |