- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đư c hưởng án treo c a bị cáo Nguyễn Tiến Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2020/HS-PT Ngày 10-3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
Ông Huỳnh Thanh Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Tràng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự ph c thẩm thụ lý số: 63/2020/TLPT-HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ. Do c háng cáo c a bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2019/HS-ST ngày 21 tháng 11 năm 2019 c a Tòa án nhân dân huyện C.
- Bị cáo c hán cáo: Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 19XX, tại tỉnh Đ; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Ấp Gò C, xã Phú C, huyện Tam N, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: XX/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha tên Nguyễn Văn L, sinh năm 19XX; Mẹ tên Nguyễn Thị L1, sinh năm 19XX; Gia đình c 05 anh, chị, em bị cáo là con nhỏ trong gia đình; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi hỏi nơi cư tr , có mặt tại phiên tòa.
Ng i ị h i, n i c quyền lợi và n hĩa vụ liên quan trong vụ án hôn hán cáo và Vi n i m sát hôn hán n hị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:
Trước đ , Nguyễn Tiến Đ và Nguyễn Minh T có mâu thuẫn từ việc chơi game online nên cả hai đã nhiều lần cự cãi và thách thức đánh nhau. Đến hoảng 20 giờ 30 phút, ngày 23/7/2019, hi đang chơi game cùng nhau, Đ và T tiếp tục cự cãi và thách đố nhau.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, hi đang uống bia cùng bạn là Lê Văn Phước V, Nguyễn Thị Ngọc H và một người tên D ( hông rõ nhân thân) tại quán nhậu Nhân Duyên trên địa bàn ấp X, xã Gáo G, huyện Cao L, Đ nhìn thấy T điều hiển xe mô tô đến quán. Do bực tức chuyện trước đ , Đ cầm hai chai bia Tiger bằng th y tinh loại 640ml hông còn nước bên trong để trên bàn đi đến vị trí T, tay phải cầm chai bia đánh một cái từ trên xuống tr ng vào n n bảo hiểm c a T đang đội làm bể chai bia, mảnh vỡ chai bia tr ng vào vùng mặt bên trái c a T gây thương tích. Sau hi thực hiện hành vi, Đ nhanh ch ng rời hỏi hiện trường, T đư c người dân đưa đi cấp cứu, điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Tam N đến ngày 30/7/2019 thì xuất viện về nhà.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 258/TgT ngày 22/8/2019 ết luật thương tích c a anh Nguyễn Minh T như sau: “Sẹo vết thương phần mềm từ cánh mũi đến hốc mắt trái lành xấu, ảnh hưởng thẩm mỹ; Sẹo vết thương phầm mềm đuôi mài trái và gò má trái số lư ng sẹo ít, ích thước nhỏ”. Căn cứ bản tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành èm theo thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014, tỷ lệ tổn thương cơ thể c a Nguyễn Minh T do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 13%, theo nguyên tắc cộng lùi tại Thông tư. Vết thương do ngoại lực tác động từ trên xuống dưới, từ trái qua phải; Tổn thương gây ảnh hưởng thẩm mỹ, do vật tày gây ra”.
Đối với chai bia là hung hí gây án, sau hi Đ đánh T, chai bia bị vỡ, các mảnh vụn rơi tại hiện trường đư c ch quán là anh Lê Hoàng N thu gom và ném bỏ hông thu hồi lại đư c.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Tiến Đ và Nguyễn Minh T đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về số tiền bồi thường thiệt hại như tiền thuốc điều trị, hồi phục sức hỏe, tiền công lao động, tiền tổn thất về mặt tinh thần với tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Ngoài ra, T hông c yêu cầu gì thêm. Đến nay, Đ đã nộp 2.000.000 đồng cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện C tạm quản lý.
Đối với chai bia bị vỡ, anh Lê Hoàng N và chị Lê Minh N (là ch quán Nhân Duyên) hông c yêu cầu gì về dân sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 c a Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:
Căn cứ vào điểm đ hoản 2 Điều 134; điểm b, s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhi m dân sự, án phí và quyền hán cáo theo luật định.
Ngày 03 tháng 12 năm 2019, bị cáo Nguyễn Tiến Đ c đơn háng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin đư c hưởng án treo.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Tiến Đ với tội danh, điều hoản c a tội danh và mức hình phạt nêu trên là c căn cứ, đ ng người, đ ng tội, đ ng quy định pháp luật. Xét mức hình phạt 03 năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù h p. Cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo. Bị cáo háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin đư c hưởng án treo nhưng hông cung cấp chứng cứ gì mới. Do đ , đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin đư c hưởng án treo c a bị cáo Nguyễn Tiến Đ, giữ nguyên phần quyết định c a bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, hông tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, xin đư c hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa ph c thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình. Lời hai nhận tội c a bị cáo phù h p với lời hai c a bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù h p với lời hai c a người bị hại, người c quyền l i và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đ cơ sở để xác định: Do c mâu thuẫn từ trước nên vào l c khoảng 21 giờ ngày 23/7/2019, hi đang uống bia cùng bạn tại quán nhậu Nhân Duyên trên địa bàn ấp X, xã Gáo G, huyện C, bị cáo Đ nhìn thấy T điều hiển xe mô tô đến quán. Do bực tức chuyện trước đ , Đ cầm hai chai bia Tiger bằng th y tinh loại 640ml hông còn nước bên trong để trên bàn đi đến vị trí c a T, dùng tay phải cầm chai bia đánh một cái từ trên xuống tr ng vào n n bảo hiểm c a T đang đội làm bể chai bia, mảnh vỡ chai bia tr ng vào vùng mặt bên trái c a T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%, ảnh hưởng thẩm mỹ.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi c a bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức hỏe c a người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, c thể chất, tinh thần phát triển bình thường, c hả năng điều hiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức đư c pháp luật, c đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ việc bị cáo và T cãi nhau trong việc chơi game online và hai bên c những lời lẽ thách thức nhau nên với bản chất hung hăn, côn đồ thích dùng bạo lực để giải quyết mọi xung đột, mâu thuẫn xảy ra và thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã c hành vi như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức đư c chai bia Tiger bằng th y tinh là hung khí nguy hiểm, nhận thức đư c hành vi dùng chai bia bằng th y tinh đánh vào đầu người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho anh Nguyễn Minh T bị thiệt hại về sức hỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 13%, chứng tỏ việc phạm tội c a bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội “Cố ý gây thương tích” là c căn cứ, đ ng người, đ ng tội. Xét mức hình phạt 03 năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù h p. Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là hông nặng, hoàn toàn phù h p với tính chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Bị cáo Đ háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin đư c hưởng án treo nhưng hông xuất trình đư c tình tiết nào mới ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét nên hông chấp nhận háng cáo c a bị cáo, giữ nguyên quyết định c a bản án sơ thẩm về hình phạt.
Xét đề nghị c a vị đại diện Viện iểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Đạt là hoàn toàn c căn cứ và phù h p pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do háng cáo c a bị cáo Đ hông đư c chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự ph c thẩm theo luật định.
Các phần hác c a quyết định bản án sơ thẩm hông c háng cáo, háng nghị có hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đư c hưởng án treo c a bị cáo Nguyễn Tiến Đ. Giữ nguyên phần quyết định c a bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ hoản 2 Điều 134; điểm b, s hoản 1 và hoản 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135; hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Tiến Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự ph c thẩm.
3. Các phần hác c a quyết định bản án sơ thẩm hông c háng cáo, háng nghị c hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Bản án ph c thẩm c hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐKT 1); - VKSND Tỉnh; - Ban nội chính Tỉnh y; - Sở Tư pháp Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - TAND-VKSND-CCTHADS huyện C; - Cơ quan CSĐT CAH C; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu VT, HSVA, (M). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |