- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thành H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thành H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN R CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2019/HSST Ngày: 29/05/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN R, THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Đình Lăng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa – Giáo viên hưu trí.
2. Ông Võ Văn Tốt – Cán bộ hưu trí.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận R, Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố H mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2019/TLST-HS, ngày 28/01/2019 đối với bị cáo:
Võ Thành H, sinh ngày 10/02/****, tại Thành phố H; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số ** Tổ P, Khu phố I, phường T, Quận R, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Võ Văn L và bà Võ Thị Đ; Hoàn cảnh gia đình chưa có vợ con; Tiền án: Không; Có 01 tiền sự: Ngày 16/3/2018 bị Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 02/2017/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 20/6/2018.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 20/11/2018 bị thay đổi bằng biện pháp tạm giam. (Có mặt)
Nhân thân: Ngày 20/11/2018, bị Công an huyện Hóc Môn, Thành phố H bắt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 07/03/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố H tuyên phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 29/2019/HSST.
Ngày 07/5/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố H tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 69/2019/HSST.
Người bào chữa: Luật sư Huỳnh Khắc Thuận là Luật sư thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Thành phố H, bào chữa cho bị cáo Võ Thành H. (Có mặt)
Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1996;
Nơi cư trú, sinh sống: Số *****, TổE, Khu phố Y, phường T, Quận R, Thành phố H. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Văn Lộc, sinh năm 1961;
Nơi cư trú, sinh sống: Số *** Tổ E, Khu phố Y, phường T, Quận R, Thành phố H. (Vắng mặt)
2. Số *** Tổ E, Khu phố Y, phường T, Quận R, Thành phố H. (Có mặt)
3. Ông Đỗ Thành L, sinh ngày 05/9/***’;
Nơi cư trú, sinh sống: Nhà không số, Tổ EA, Khu phố O, phường T, Quận R, Thành phố H. (Vắng mặt)
Đại diện theo pháp luật của ông Đỗ Thành L: Ông Đỗ Xuân H, sinh năm 19** và bà Vũ Thị Kim X, sinh năm 19**;
Cùng cư trú, sinh sống: Nhà không số, Tổ EA, Khu phố O, phường T, Quận R, Thành phố H. (Vắng mặt)
4. Bà Nguyễn Thị Ngọc M;
Nơi cư trú, sinh sống: Số **N, Khu phố J, phường H, Quận R, Thành phố H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận R, Thành phố H và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 12/8/2018, Võ Thành H đang chơi game tại tiệm internet thuộc xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài nên giả vờ rủ Đỗ Thành L đi về nhà xin tiền nên L đồng ý. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số 51Y4-03** chở L về Quận 12. Đến đầu hẻm *** Đường Nguyễn Thị Kiểu, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12 thì H nói với L đứng giữ xe để H vào nhà xin tiền rồi H đi bộ vào hẻm *** Đường Nguyễn Thị Kiểu tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi ngang qua nhà số 445*** Tổ Q, Khu phố K, phường T, Quận 12 thấy nhà mở cửa, không có người trông coi nên H đi vào nhà và phát hiện một điện thoại di động hiệu Iphone 6 của chị Nguyễn Thị T đang để trên ghế phòng khách, nên lấy trộm thì bị phát hiện tri hô. H chạy bộ ra đường thì bị Công an bắt giữ cùng tang vật.
Riêng Đỗ Thành L không tham gia trộm cắp tài sản cùng với Hiếu nên không có cơ sở để xử lý.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại Iphone 6, số Imei: 359233064481884. Cơ quan cảnh sát điều tra công an Quận 12 đã xác minh trả lại cho chủ sở hữu;
- 01 xe mô tô biển số 51Y4-03**, SM: 150FMG0012****, SK: 5UM5H12****. Kết quả xác minh biển số xe 51Y4-03** với số máy, số khung không trùng khớp. Qua xác minh xe mô tô biển số 51Y4-03** có SM: HC08E-008****, SK: HC008092Y-085***, do anh Võ Hoàng Lam đứng tên chủ sở hữu. Anh Lam khai mất trộm xe trên vào đầu tháng 8 năm 2018 tại xã Bà Điểm huyện Hóc Môn. Kết quả xác minh xe mô tô có SM: 150FMG0012****, SK: 5UM5H12**** có biển số thật là 51R1-48** do chị Nguyễn Thị Ngọc M đứng tên sở hữu, chị M khai đã bán lại cho người khác.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 327/KLĐG ngày 13/8/2018, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 12 xác định chiếc điện thoại có giá trị là 2.900.000 đồng.
Cáo trạng số 187/CTr-VKS-HS, ngày 24/10/2018, của Viện kiểm sát nhân dân Quận R, đã truy tố bị cáo Võ Thành H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm hôm nay, bị cáo Võ Thành H khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 ngày 12/8/2018, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 51Y4-03** chở Đỗ Thành L về Quận 12. Đến trước hẻm *** Đường Nguyễn Thị Kiểu, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12 thì bị cáo nói L đứng trông xe, bị cáo vào nhà xin tiền nhưng thực chất bị cáo tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi ngang qua nhà số 445*** Đường Nguyễn Thị Kiểu, bị cáo thấy cửa nhà không khóa, chỉ khép hờ, không người trông coi nên bị cáo lẻn vào nhà và lấy chiếc điện thoại Iphone 6 đặt trên ghế ở phòng khách nhưng bị bắt quả tang. Việc bị cáo thực hiện hành vi lấy chiếc điện thoại bị cáo không bàn bạc gì với L.
Người bị hại chị Nguyễn Thị T, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa. Trong đơn chị Thảo không yêu cầu bồi thường gì về phần dân sự đối với bị cáo, về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với Đỗ Thành L, trong các bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, Long khai không biết việc bị cáo H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vì bị cáo chỉ nói đi cùng bị cáo về nhà xin tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Võ Thành H phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù của bản án số Bản án số 29/2019/HSST ngày 07/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Thị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần dân sự đối với bị cáo nên không xem xét.
Vật chứng của vụ án:
Đối với 01 điện thoại Iphone 6, số Imei: 359233064481884. Cơ quan cảnh sát điều tra công an Quận 12 đã xác minh trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp quy định pháp luật, đề nghị không xem xét.
Đối với 01 biển số giả 51Y4-03**, không còn giá trị sử dụng, đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô có SM: 150FMG0012****, SK: 5UM5H12**** qua xác minh có biển số thật là 51R1-48** do chị Nguyễn Thị Ngọc M đứng tên sở hữu, chị M khai đã bán lại cho người khác, là những tài sản chưa xác định được người quản lý hợp pháp đề nghị giao Chi cục thi hành án dân sự Quận 12 đăng báo trung ương 03 số trong 03 kỳ liên tiếp để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; sau thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên nếu xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu không xác định được thì tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Người bào chữa của bị cáo tại phiên tòa phát biểu quan điểm đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo mới phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; hành vi của bị cáo chỉ mang tính bộc phát, nhất thời. Đặc biệt bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi để đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chế định xử lý trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội để cho bị cáo được hưởng mức án khoan hồng nhất.
Đại diện Viện kiểm sát không tranh luận, vẫn bảo lưu quan điểm của mình.
Bị cáo không tranh luận chỉ nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án khoan hồng nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận R, Thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận R, Thành phố H, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, dùng nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Trong vụ án này người bị hại chị Nguyễn Thị T, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án mặc dù đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo ngày giờ xét xử nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì về phần dân sự. Nhận thấy việc vắng mặt của những chủ thể này không ảnh hưởng đến việc giải quyết toàn diện, khách quan vụ án nên Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt đối với những chủ thể này là phù hợp quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Thành H đã thừa nhận hành vi sai phạm do bị cáo thực hiện trong vụ án như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã nêu;
Nhận thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, thể hiện qua các bản tự khai, bản tường trình, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đã có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Võ Thành H lợi dụng lúc nhà chị Nguyễn Thị T không khóa cửa nên đã lẻn vào nhà và phát hiện chiếc điện thoại Iphone 6 của chị Thảo để trên ghế ở phòng khách nên trộm cắp định tẩu thoát mang đi bán lấy t8iền tiêu xài thì bị phát hiện bắt giữ đây là hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo sinh ngày 10/02/**** thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 12/8/2018 như vậy bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác khi đã đạt đổ tuổi từ trên 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; Bị cáo nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thược hiện;
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội.
Căn cứ vào kết luận định giá số 327/KLĐG ngày 13/8/2018, của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận R, xác định chiếc điện thoại Iphone 6 do bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 2.900.000 đồng, đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo như nêu trên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra không chỉ xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng, nhân dân. Bị cáo lại có nhân thân xấu đã từng bị đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 02/2017/QĐ-TA ngày 16/3/2017 về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 20/6/2018. Mặt khác trong thời gian được tại ngoại bị cáo lại phạm tội mới nên cần phải áp dụng hình phạt tù với thời hạn nhất định đối với bị cáo thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử nhận thấy như lời bào chữa của vị luật sư, ý kiến luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát cần xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo mới phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức hình phạt tù mà lẽ ra bị cáo phải chịu; mặt khác bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi để áp dụng và áp dụng Điều 90, 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, để áp dụng mức hình phạt tù phù hợp đối với bị cáo và tuân thủ nguyên tắc mức phạt tù cao nhất đối với bị cáo không quá ba phần tư mức phạt tù quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Do trong thời gian chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo lại tiếp tục thực hiện hai vụ án hình sự khác nên không thể hiện thái độ ăn năn hối cải do đó không thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 được.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại Iphone 6, số Imei: 359233064481884. Cơ quan cảnh sát điều tra công an Quận R đã xác minh trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp quy định pháp luật nên không xem xét lại.
Đối với 01 biển số giả 51Y4-03**, không còn giá trị sử dụng, cần căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô có SM: 150FMG0012****, SK: 5UM5H12**** qua xác minh có biển số thật là 51R1-48** do chị Nguyễn Thị Ngọc M đứng tên sở hữu, chị M khai đã bán lại cho người khác, là những tài sản chưa xác định được người quản lý hợp pháp cần giao Chi cục thi hành án dân sự Quận 12 đăng báo trung ương 03 số trong 03 kỳ liên tiếp để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; sau thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên nếu xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu không xác định được thì tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Thị T không có yêu cầu gì về phần dân sự nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Cần căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Thành H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm h, i, khoản 1, Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Võ Thành H: 01 (một) năm tù;
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của Bản án số 29/2019/HSST ngày 07/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố H xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2018.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 biển số giả 51Y4-03**;
Giao Chi cục thi hành án dân sự Quận12, Thành phố Hồ Chí Minh đăng báo trung ương 03 số trong 03 kỳ liên tiếp để xác định người quản lý hợp pháp 01 xe mô tô có SM: 150FMG0012****, SK: 5UM5H12****, sau thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên nếu xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu không xác định được thì tịch thu, sung quỹ nhà nước
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 149/QĐ - VKS, ngày 24/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh)
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01) - VKSND Quận 12; (02) - THADS Quận 12; (01) - THAHS Quận R; (04) - Phòng PC27 CA Tp. HCM; (01) - Công an Quận 12; (02) - Bị cáo; (01) - Người tham gia tố tụng khác; (05) - Lưu hồ sơ vụ án. T 20/. (04) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Đình Lăng |