- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Thanh H phạm tội Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Thanh H phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2019/HSST Ngày 19 tháng 11 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Hồng Giang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô và ông Nguyễn Quang Vinh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy – Thư ký Toà án
nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Đình Luyện - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2019/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2019/HSST-QĐ ngày 05 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Thanh H, sinh năm 1990. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam;
- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Ph, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; con ông Chu Văn Th, sinh năm 1963 và con bà Tạ Thị T, sinh năm 1968; vợ là Phạm Thị H, sinh năm 1993; có 01 con sinh năm 2015;
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt quả tang, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. *Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Số 186 Ng, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 9 giờ 45 phút ngày 06/9/2019, tại quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Đ, xã Ph, huyện L, Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang bị cáo Chu Thanh H đang có hành vi tàng trữ trái phép 9,5kg pháo nổ trên xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 98A-083.09 do Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 ở số nhà 186, Ng, thị trấn V, huyện L điều khiển.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại chỗ để chân ghế sau bên phải xe ô tô (sau ghế phụ) BKS 98A- 083.09 một bao tơ dứa mầu xanh, bên trong bao tơ dứa có chứa 07 vật hình hộp vỏ giấy mầu in hoa văn và chữ nước ngoài nghi là pháo. Các vật nghi là pháo được đựng trong bao tơ dứa mầu đỏ trắng quấn nilon bên ngoài, được đựng trong bao tơ dứa mầu xanh. Tổng khối lượng các vật nghi là pháo thu giữ là 9,5 kg; 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA loại COROLLA cũ đã qua sử dụng mầu bạc, BKS 98A-083.09.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Thanh H, phát hiện tại gầm kệ để ti vi cạnh chân giường ngủ trong phòng ngủ của Chu Thanh H có 01 túi nilon bên trong đựng các vật sau: 02 vật hình bóng đèn điện tròn loại to bên ngoài bọc giấy có dây dẫn ngòi nghi là pháo nổ, cân trọng lượng 02 vật được 0,2kg; 50 vật hình bóng đèn điện tròn loại nhỏ bên ngoài bọc giấy có dây dẫn ngòi nghi là pháo nổ, cân trọng lượng 50 vật là 2kg; 01 khối hình trụ tròn, bên ngoài bọc giấy màu có in hoa văn chữ nước ngoài bên trong có các vật nhỏ được liên kết với nhau thành tràng nghi là pháo nổ, trọng lượng 1kg. Tổng số các vật đựng trong túi nilon mầu đen có trọng lượng 3,2kg.
Vật chứng thu giữ được nghi là pháo nổ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang đã niêm phong gửi giám định. Tại kết luận giám định số 5310/C09-P2 ngày 10/9/2019 của Viện khoa học hình sự -Bộ Công an kết luận :
“- 07 khối hộp, vỏ bằng giấy mầu, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Khối lượng pháo là 9,5kg (chín phẩy năm kilôgam).
- 52 vật hình bóng đèn điện tròn, vỏ bọc giấy mầu, một đầu có gắn dây ngòi đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích hoặc hoặc đốt có gây tiếng nổ). Khối lượng pháo là 2,2kg (hai phẩy hai kilôgam).
- Các vật hình trụ, vỏ bằng giấy màu, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi, được liên kết với nhau thành tràng (01 tràng) là pháo nổ. Khối lượng pháo là 01kg (một kilôgam).” (BL 22).
Quá trình điều tra, Chu Thanh H khai nhận:
Khoảng tháng 3, tháng 4 năm 2019, H đi xe ô tô lên cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn mục đích tìm mua pháo về để sử dụng đốt mừng đám cưới và đốt chơi tết. Đến nơi, H gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết các loại pháo gồm: 07 bệ pháo dạng giàn 36 quả; 52 quả pháo dạng hình bóng đèn điện và 01 bánh pháo nổ với giá 3.500.000đ, sau đó mang về nhà cất giấu (H không nói cho những người trong gia đình biết việc mua và cất giấu pháo).
Khoảng 09 giờ sáng ngày 06/9/2019, H đang ở nhà chuẩn bị đi ăn cỗ cưới bạn trên huyện H, tỉnh Lạng Sơn thì có anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 ở số nhà 186, đường Ng, thị trấn V, huyện L gọi điện rủ lên khu vực thị trấn V uống nước. H đồng ý rồi lấy 07 bệ pháo giàn cho vào trong 01 bao tơ dứa màu đỏ trắng, quấn ni lông bên ngoài rồi cho tiếp vào trong 01 bao tơ dứa màu xanh để đem đi uống nước cùng anh C. Khi uống nước xong, bị cáo sẽ bắt xe khách đem pháo đi đốt mừng đám cưới bạn. H đem bao pháo đi ra cổng ngay trước của nhà, nơi anh C đang đợi. Sau đó, C để bao pháo tại chỗ để chân ghế sau bên phải xe ô tô (sau ghế phụ) BKS 98A- 083.09 và bảo anh C chở hộ lên thị trấn V (H không nói cho anh C biết đó là bao pháo). Khi H vừa để pháo vào trong xe thì bị Công an huyện Lạng Giang kiểm tra bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Bản cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo Chu Thanh H về tội “Tàng trữ hàng cấm ” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Chu Thanh H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm ”. Đồng thời, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 đề nghị xử phạt bị cáo Chu Thanh H từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng, tính từ ngày tuyên án; bị cáo không có tài sản riêng nên đề nghị miễn phạt bổ sung bị cáo.
- Về vật chứng, đại diện VKS đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106- BLTTHS để:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải dứa mầu xanh bên trong có chứa pháo nổ và pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ được niêm phong bằng dải niêm phong có các chữ ký của giám định viên Viện khoa học hình sự - Bộ Công an
Ngoài ra, đại diện VKSND huyện còn đề nghị về án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai trái, là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định quyết tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nên các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với biên bản khám xét cũng như các tài liệu điều tra đã thu thập được. Cụ thể đã thể hiện: Hồi 10 giờ ngày 06/9/2019, tại gia đình Chu Thanh H, sinh năm 1990 ở thôn Đ, xã Ph, huyện L, Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang H đang có hành vi tàng trữ trái phép 9,5kg pháo nổ trên xe ô tô BKS 98A-083.09 do Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 ở số nhà 186, đường Ng, thị trấn V điều khiển, mục đích để sử dụng.
Ngoài ra, khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Thanh H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang thu giữ 3,2 kg pháo do H cất giấu tại nhà, mục đích để sử dụng.
Tổng khối lượng pháo của Chu Thanh H tàng trữ trái phép xác định là 12,7 kg.
Căn cứ vào các quy định của BLHS, HĐXX đã có đầy đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Chu Thanh H phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có ông bà nội được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét tính chất vụ án thấy: Trong vụ án này có 1 bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm (trong đó có pháo nổ), đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Nhà nước ta đã có nhiều quy định để đẩy mạnh việc nghiêm cấm các hành vi sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển pháo nổ. Chúng ta đều biết mọi hành vi liên quan đến việc sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển và sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo đều bị Nhà nước nghiêm cấm. Bởi chúng có những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, trực tiếp đe dọa an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của mọi cá nhân, tổ chức. Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, cảnh báo mọi người dân phải tránh xa và phải nghiêm túc thực hiện các quy định của Nhà nước về vấn đề này. Đấu tranh phòng chống việc sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển và sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo là nhiệm vụ của mọi công dân và của toàn xã hội. Chính vì vậy, đối với những hành vi sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển và sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo đều phải bị xử lý trước pháp luật để giáo dục riêng và dăn đe phòng ngừa chung trong xã hội. Trong vụ án này, bị cáo tàng trữ với số lượng pháo không nhiều; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng. HĐXX thấy không cần bắt cách ly xã hội đối với bị cáo, HĐXX thấy cần phạt bị cáo với mức án như ý kiến đề nghị của đại diện VKSND huyện tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ.
. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh tại địa phương thấy bị cáo không có tài sản riêng, là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Qua xét xử vụ án, HĐXX còn thấy: Đối với anh Nguyễn Văn C là người cho H để pháo trên xe ô tô BKS 98A-083.09 nhưng anh C không biết bao tơ dứa H để trên xe ô tô là pháo nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với người đàn ông bán pháo cho H, H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định để xử lý là có căn cứ.
. Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ được chuyển cùng hồ sơ vụ án giải quyết, HĐXX thấy: 01 bao tải dứa mầu xanh bên trong có chứa pháo nổ và pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ được niêm phong bằng dải niêm phong có các chữ ký của giám định viên Viện khoa học hình sự - Bộ Công an là vật cấm lưu hành nên cần được tịch thu tiêu hủy;
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Chu Thanh H phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ các Điều 106, 135, 136, 292, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Bị cáo Chu Thanh H 08 (tám) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách là 16 tháng, tính từ ngày tuyên án. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Chu Thanh H cho UBND xã Ph, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao tải dứa mầu xanh bên trong có chứa pháo nổ và pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ được niêm phong bằng dải niêm phong có các chữ ký của giám định viên Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và những người liên quan.
(Đặc điểm của vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng giữa CQĐT và Chi cục THADS huyện Lạng Giang ngày 01/11/2019).
3. Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Chu Thanh H phải chịu số tiền 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của BLTTH,
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm iết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lạng Giang; - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang; - THADS huyện Lạng Giang; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, vp. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thân Hồng Giang |