vanban.org

Bản án 92/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 30/05/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn với anh LEE PYEONG I.

Về nuôi con, chia tài sản: Chị Vũ Thị H và anh LEE PYEONG I không có con chung, tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghin đồng ) án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn với anh LEE PYEONG I.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2019/HNGĐ-ST
Ngày 30-5-2019
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Long

Ông Nguyễn Đức Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1960/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H; nơi cư trú: Thôn Đồng Mớ i, xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh LEE PYEONG I; nơi cư trú: Hàn Quốc, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày: Chị và anh LEE PYEONG I thông qua giới thiệu đã kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên vào ngày 29 tháng 6 năm 2018. Sau khi kết hôn anh LEE PYEONG I ở tại Việt Nam một thời gian ngắn sau đó trở về Hàn Quốc. Đến tháng 8 năm 2018 anh quay trở lại Việt Nam thăm vợ được khoảng một tuần thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng trong ngôn ngữ, chênh lệch về tuổi tác ngoài ra anh LEE PYEONG I thường xuyên ghen tuông vô cớ. Khi mâu thuẫn xẩy ra anh bỏ về Hàn Quốc. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng cũng không còn, khả năng đoàn tụ là không thể chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh LEE PYEONG I.

Về nuôi con và tài sản chung: Chị Vũ Thị H và anh LEE PYEONG I không có con chung, tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong đơn xin ly hôn gửi về Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, bị đơn là anh LEE PYEONG I trình bày: Anh thống nhất với chị Vũ Thị H về quá trình kết hôn, về con chung, về tài sản chung cũng như nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng ly hôn. Anh LEE PYEONG I cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Thị H.

Do anh LEE PYEONG I đang ở nước ngoài và không yêu cầu hòa giải nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Tại phiên tòa: Chị Vũ Thị H có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn xin ly hôn và các bản tự khai. Anh LEE PYEONG I có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thị H và anh LEE PYEONG I kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Thủy Nguyên vào ngày 29 tháng 6 năm 2018, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp. Vụ án có đương sự hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh LEE PYEONG I vắng mặt tại phiên tòa, anh có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và ủy quyền cho chị Vũ Thị H nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho anh, tài liệu của anh đã được Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hàn Quốc chứ ng nhâ ̣n. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh LEE PYEONG I.

Về hôn nhân: Lời khai của chị Vũ Thị H thống nhất với lời khai của anh LEE PYEONG I về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, đồng thời lời khai của anh chị cũng phù hợp với ý kiến của đại diện gia đình. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị Vũ Thị H và anh LEE PYEONG I do có bất đồng về ngôn ngữ, phòng tục, tập quán, văn hóa, quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bản thân cả anh chị cũng đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Nay cả hai cùng xác đi ̣nh không còn tinh cảm vớ i nhau và cùng đề nghi ̣

̀ được ly hôn . Như vâ ̣y , mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Vũ Thị H và anh LEE PYEONG I đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhâ ̣n đề nghi ̣ xin ly hôn của chị Vũ Thị H.

Về nuôi con và chia tài sản: Chị Vũ Thị H và anh LEE PYEONG I không có con chung, tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Vũ Thị H là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Vũ Thị H và anh LEE PYEONG I được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn với anh LEE PYEONG I.

2. Về nuôi con, chia tài sản: Chị Vũ Thị H và anh LEE PYEONG I không có con chung, tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghin đồng ) án

̀ phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ thẩm đ ã

́ nô ̣p là 300.000 đồng theo Biên lai số 0001817 ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại Cu ̣c Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị H đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh LEE PYEONG I được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ