- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh Đặng C với chị Nguyễn Thị Ngọc D"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đặng C
- Căn cứ chính? Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2019/HNGĐ-ST Ngày: 10/04/2019. V/v tranh chấp: xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Kiều Chinh
2. Bà Ngô Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quí – Kiểm sát viên
Trong ngày 10 tháng 04 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2019/TLST-HNGĐ ngày 20/02/2019 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐST- HNGĐ ngày 18/03/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01/04/2019 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đặng C – sinh năm 1989;
Địa chỉ: 373/172/19 Lý Thường Kiệt, phường 8, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Nguyễn Thị Ngọc D – sinh năm 1991;
Địa chỉ: ấp X, xã B, huyện G, Tiền Giang.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI D VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn của nguyên đơn anh Đặng C trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Ngọc D cưới nhau vào năm 2015, có sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống anh C và chị D sống hạnh phúc được 01 năm, rồi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, kinh tế hạn chế nên thường xảy ra xung đột cải nhau. Đến tháng 6/2018 chị D về nhà cha mẹ ruột sống nên anh và chị D sống ly thân cho đến nay. Nay anh C yêu cầu xin ly hôn với chị D.
- Về con chung: có 01 cháu tên Đặng Vũ Xuân N - sinh ngày 10/4/2016. Hiện cháu N đang sống với anh. Khi ly hôn anh C yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho chị D nhưng chị D không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của anh C.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn anh Đặng C vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc D; về con chung: anh C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đặng Vũ Xuân N - sinh ngày 10/4/2016, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không có; về nợ chung: không có.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đặng C, anh C được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc D; về con chung: giao cho anh C được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đặng Vũ Xuân N - sinh ngày 10/4/2016, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không có; về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua Nên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “xin ly hôn”.
Xét bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc D đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị D vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị D.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Đặng C là có cơ sở. Vì anh Đặng C và chị Nguyễn Thị Ngọc D cưới nhau vào năm 2015, được sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, quận T, thành phố Hồ Chí Minh số 26 ngày 29/04/2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh C và chị D sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do mâu thuẫn về kinh tế, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh C và chị D sống ly thân từ tháng 6/2018 cho đến nay mà giữa anh C, chị D vẫn không hàn gắn được tình cảm. Cho thấy mâu thuẫn giữa anh C và chị D đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh C là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: anh C yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đặng Vũ Xuân N - sinh ngày 10/4/2016. Xét yêu cầu này của anh C là có cơ sở vì cháu N đang sống với anh C đã ổn định cuộc sống, nếu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, và yêu cầu này phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: anh C không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không có
Về án phí: do anh C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 175, 177, 227, 233, 235 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đặng C
Anh Đặng C được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc D.
- Về con chung: giao cho anh Đặng C được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đặng Vũ Xuân N - sinh ngày 10/4/2016 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, lao động được. Chị Nguyễn Thị Ngọc D không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Ngọc D được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về án phí: anh Đặng C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà anh C đã nộp theo biên lai thu số 40061 ngày 19/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, do vậy anh C đã nộp xong án phí.
Báo nguyên đơn có mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo bị đơn vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án văn hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - VKSND huyện Gò Công Tây; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - THADS huyện Gò Công Tây; - UBND P.8, QTB, TP.HCM - Các đương sự. | Nguyễn Văn Tuấn Anh |