- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "anh Quản Bá H tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH B ——————— Bản án số: 92/2019/HNGĐ-ST Ngày 26-8-2019 V/v thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ D, TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Hòa;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 360/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Quản Bá H; sinh năm 1978; thường trú: Số 40/2 Khu phố T2, phường T, thị xã D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Đinh Thị H1, sinh năm 1979; tạm trú: Số 519B, đường Lê Hồng Phong, khu phố C, phường TĐ, thị xã D, tỉnh B.Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 10/4/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Quản Bá H trình bày:
Anh Quản Bá H và chị Đinh Thị H1 là vợ chồng, đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 37/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2019. Trong quá trình chung sống vợ chồng tôi có 03 con chung là Quản Bá T, sinh năm 2002, Quản Thị Hương TR, sinh năm 2003, Quản Thị Hương TR4, sinh năm 2012. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 37/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2019 có giải quyết về vấn đề nuôi con như sau: Anh Quản Bá H trực tiếp nuôi 02 con chung Quản Bá T, sinh ngày 21/4/2002, Quản Thị Hương TR, sinh ngày 16/6/2003, còn chị Đinh Thị H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng Quản Thị Hương TR4, sinh ngày 08/4/2012.
Tuy nhiên, sau khi ly hôn anh Quản Bá H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quản Thị Hương TR4, đến khi Tòa án triệu tập đến Tòa án để giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con thì chị Hương mới đến đưa bé Hương Trúc đi và chỉ đi được khoảng 01 tuần thì chị Hương đưa bé Trúc về lại cho anh Quản Bá H trực tiếp nuôi dưỡng như vậy là ảnh hưởng đến việc học tập và sinh hoạt bình thường của cháu Trúc. Vì vậy, anh Quản Bá H khởi kiện yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quản Thị Hương TR4, sinh năm 2012 và không yêu cầu chị Đinh Thị H1 cấp nuôi con.
Anh Quản Bá H có nhà ở ổn định và kinh doanh tự do, hàng tháng thu nhập khoảng 30.000.000 đồng. Chị H1 làm nghề gì thu nhập bao nhiêu anh H không biết.
- Về phía bị đơn chị Đinh Thị H1 tại phiên tòa vắng mặt không có lý do nhưng tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 03/5/2019 chị H1 trình bày:
Chị Đinh Thị H1 và anh Quản Bá H là vợ chồng tuy nhiên đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn vào ngày 17/01/2019. Trong quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Quản Bá T, sinh năm 2002, Quản Thị Hương TR, sinh năm 2003, Quản Thị Hương TR4, sinh năm 2012. Tại quyết định ly hôn có giải quyết về vấn đề nuôi con như sau: Anh Quản Bá H trực tiếp nuôi 02 con chung Quản Bá T, sinh năm 2002, Quản Thị Hương TR, sinh năm 2003, còn chị Đinh Thị H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng Quản Thị Hương TR4, sinh năm 2012.
Sau khi ly hôn chị Đinh Thị H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quản Thị Hương TR4, tuy nhiên khoảng 01 tháng gần đây chị Đinh Thị H1 đi làm ăn xa nên có gửi con lại cho anh Hải trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay, chị Đinh Thị H1 đang ở nhà mẹ chị Hương và đang kinh doanh nhà trọ, hàng tháng khoảng 14.000.000 đồng – 15.000.0000 đồng.
Khi ly hôn chị Đinh Thị H1 và anh Quản Bá H chưa giải quyết về mặt tài sản nên toàn bộ thu nhập trong kinh doanh và thu nhập nhà trọ là anh Quản Bá H thu để nuôi các con.
Nay anh Quản Bá H có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu được nuôi con chung tên Quản Thị Hương TR4 chị Đinh Thị H1 không đồng ý.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, tuy nhiên có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 12/8/2019 và ngày 26/8/2019 nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
2
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn anh Quản Bá H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Đinh Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa ngày 26/8/2019 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Quản Bá H và chị Đinh Thị H1.
Về yêu cầu khởi kiện của anh Quản Bá H: Anh Quản Bá H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Quản Thị Hương TR4 vì: Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 37/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2019 giao con chung là Quản Thị Hương TR4 cho chị Đinh Thị H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng nhưng người thực tế nuôi dưỡng là anh Quản Bá H. Chị Đinh Thị H1 không đồng ý việc thay đổi người trực tiếp nuôi con vì thực thế chị H1 nuôi cháu Quản Thị Hương TR4 nhưng khoảng 01 tháng gần đây chị bận công việc nên chị gửi cháu Trúc cho anh Hải trực tiếp nuôi dưỡng. Theo quy định của pháp luật, cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng thương yêu con chung, chăm lo học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nhiều mặt để bảo đảm cho sự phát triển tốt nhất cả về mặt thể chất lẫn tinh thần của con. Xét thấy, sau khi ly hôn người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quản Thị Hương TR4 là anh Quản Bá H, điều này được cháu Trúc thừa nhận tại biên bản lấy lời khai ngày 03/5/2019 (BL 24). Đối với anh Quản Bá H hiện tại có công việc ổn định, thu nhập cao và có chỗ ở ổn định đủ điều kiện và đảm bảo cho cuộc sống cho con và thực tế là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quản Thị Hương TR4. Vì vậy, cần giao cháu Quản Thị Hương TR4, sinh ngày 08/4/2012 cho anh Quản Bá H trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển bình thường về mọi mặt của con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81 và Điều 84 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: anh Quản Bá H không yêu cầu chị Đinh Thị H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của anh Hải nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của anh Quản Bá H với chị Đinh Thị H1.
Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là phù hợp như những phân tích nêu trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị Hương phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2014 và Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình
3
năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Buộc chị Đinh Thị H1 giao con chung tên Quản Thị Hương TR4, sinh ngày 08/4/2012 cho anh Quản Bá H trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Đinh Thị H1 và anh Quản Bá H đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Anh Quản Bá H phải tạo điều kiện cho chị Đinh Thị Vân trong việc thăm nom, chăm sóc con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Quản Bá H về việc không yêu cầu chị Đinh Thị H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị H1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí về thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hoàn trả lại cho anh Quản Bá H số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0028425 ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B.
4. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Các đương sự (2); - VKSND thị xã Dĩ An (1); - CC THADS thị xã Dĩ An (1); - TAND tỉnh B (1); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Thị Uyên 4 |