vanban.org

Bản án 92/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 26/04/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.

Giữ nguyên bản án d n s sơ thẩm số: 81/2018/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nh n d n huy n C, tỉnh ồng tháp. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của bà Nguyễn Thị T v vi c tranh chấp quy n sử dụng đất với hộ ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M đối với di n t ch 541m2 thuộc thửa đất số… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1963 (Có mặt); Địa chỉ: Số A, Ấp B, xã P.M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. 2. Bị đơn: 2.1. Nguyễn Văn S, sin…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2019/DS-PT
Ngày: 26-4-2019
"V/v tranh chấp d n s v quy n
sử dụng đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Giao.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Ông inh Ch Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nh n d n tỉnh ồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Phan Trung Quốc – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 02/4/2019 và ngày 26/4/2019, tại trụ sở Tòa án nh n d n tỉnh ồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2019/TLPT-DS ngày 17 tháng 01 năm 2019, v vi c “Tranh chấp d n s v quy n sử dụng đất”;

Do Bản án d n s sơ thẩm số: 81/2018/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nh n d n huy n C, tỉnh ồng tháp bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 85/2019/Q -PT ngày 08 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 86/2019/Q - PT ngày 02 tháng 4 năm 2019, giữa các đương s :

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1963 (Có mặt);

ịa chỉ: Số A, Ấp B, xã P.M, huy n C, tỉnh ồng Tháp.

Người bảo v quy n và lợi ch hợp pháp của bà Nguyễn Thị T là Luật sư Lê Hữu P – Văn phòng luật sư L.P, thuộc oàn luật sư tỉnh ồng Tháp (Có mặt).

2. Bị đơn:

2.1. Nguyễn Văn S, sinh năm 1957 (Có mặt);

ịa chỉ: Số C, Ấp D, xã B.T, huy n T, tỉnh ồng Tháp.

Người bảo v quy n và lợi ch hợp pháp của ông Nguyễn Văn S là Luật sư Võ Thị Băng G – Văn phòng luật sư Băng G, thuộc oàn luật sư tỉnh ồng Tháp; ịa chỉ: Số E, khóm M.T, thị trấn M.T, huy n C, ồng Tháp (Có mặt).

2.2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1963 (Có mặt);

ịa chỉ: Số C, Ấp D, xã B.T, huy n T, tỉnh ồng Tháp.

3. Người có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Trịnh Văn C, sinh năm 1964 (Có mặt);

ịa chỉ: Số A, Ấp B, xã P.M, huy n C, tỉnh ồng Tháp.

3.2. Ông Nguyễn Minh C1, sinh năm 1966 (Có mặt);

ịa chỉ: Số G, khóm T. .B, thị trấn T, huy n T, tỉnh ồng Tháp.

3.3. Ủy ban nh n d n huy n C;

Người đại di n theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng S – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nh n d n huy n C (Có đơn xin vắng mặt).

ịa chỉ: Khóm M.T, trị trấn M.T, huy n C, ồng Tháp.

4. Người làm chứng:

4.1. Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1966 (Có mặt);

4.1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1976 (Có mặt);

4.1. Ông Phan Văn G, sinh năm 1951 (Có mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã P.M, huy n C, tỉnh ồng Tháp.

5. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T (Là nguyên đơn trong vụ án).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà ngoại bà T, ông S tên là Phan Thị T2, bà T2 cho bà Nguyễn Thị C2 (là m bà T, ông S chết năm 1974) di n t ch 4.452m2 ở xã P.M, huy n C, ồng Tháp. Bà C1 sử dụng và canh tác từ năm 1968 đến năm 1974 thì chết không để lại di chúc. Ông Nguyễn Văn B1 (là cha bà T, ông S đã chết) và bà C2 có 04 người con là ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Minh C1. Ông S đi đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quy n sử dụng đất từ năm 1993 đối với di n t ch 4.452m2 thuộc thửa 851 và 904 tờ bản đồ số 5 ở xã P.M, huy n C, ồng Tháp. Vi c ông S đi kê khai đăng ký anh em trong gia đình không biết, khi bà T biết ông S nói ông S đại di n anh em đăng ký th c tế ai sử dụng là của người đó, riêng bà T được ở suốt đời không cho đứng tên trong giấy.

Ông S canh tác đất ở xã P.M từ khi trưởng thành đến năm 1993 rồi chuyển v canh tác đất ở xã B.T, huy n T. Từ năm 1993, ông C1 canh tác di n t ch đất 4.452m2 ở xã P.M cho đến nay. Bà T sống trên di n đất này từ nhỏ đến năm 1982 bà T dọn v bên chồng sống. Năm 1996, ông C1 kêu bà v cất nhà tại vị tr hi n nay đang tranh chấp, vì đất bên chồng chật h p không sinh sống được. Khi dọn v có chồng bà là ông Trịnh Văn C. Khi bà cất nhà anh em không ai có ý kiến, vị tr nhà của bà lúc nằm trọn trong di n t ch 648m2 (đo đạc th c tế di n tích là 541m2) thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5, tại xã P.M, huy n C, ồng Tháp. Năm 1997, bà đào ao nuôi cá không ai có ý kiến. Năm 2015, bà T thay đổi vị tr nhà là đổi hướng nhưng không khác so với vị tr ban đầu vẫn nằm trọn trong thửa 2644, tờ bản đồ số 5 thì ông S, bà M ngăn cản và hai bên bắt đầu tranh chấp cho đến nay. Lý do bà tranh chấp, không đồng ý di chuyển nhà đi nơi khác là vì ông S đã cho bà cất nhà và cho bà sử dụng di n t ch đất này, bà T khẳng định không tranh chấp v thừa kế di sản của cha m để lại trong vụ án này.

Sống và sử dụng trên di n t ch đất này từ năm 1997 đến nay chỉ có bà T và ông C, các con đã có gia đình sống ở di n t ch đất khác, không tham gia vào quan h sử dụng đất nên bà không yêu cầu đưa các con của bà tham gia vào vụ án. Vi c ông S cho bà di n t ch đất ruộng ở xã B.T, huy n T, ồng Tháp là không đúng s thật. ối với tờ hợp đồng ngày 16/8/1991 ph a bị đơn cung cấp, bà không thừa nhận nhưng cũng không có tranh chấp.

Nay bà T yêu cầu ông S, bà M trả bà di n t ch đất 541m2, thửa 2644, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp. ồng thời, bà T yêu cầu công nhận quy n sử dụng đất di n t ch đất thuộc thửa 2644 cho bà và hủy giấy chứng nhận quy n sử dụng đất của ông S đang đứng tên trên giấy chứng nhận quy n sử dụng đất đối với di n t ch 541m2, thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên. Nếu trường hợp Hội đồng xét xử buộc bà T phải trả di n t ch đất 541m2 cho ông S, bà M thì bà không yêu cầu bồi thường giá trị nhà và hỗ trợ di dời nhà, các c y trồng và công đào ao trên đất và đồng ý di dời trả di n t ch đất cho ông S, bà M. V hi n trạng đất, nhà và c y, ao có trên đất tranh chấp từ lúc xem xét, thẩm định cho đến nay không có gì thay đổi, không phát sinh thêm, đúng như sơ đồ đo đạc của ngày 03/8/2016 của Văn phòng đăng ký quy n sử dụng đất huy n C. V định giá tài sản tranh chấp bà T thống nhất với kết quả định giá không yêu cầu định giá lại. Ngoài ra, bà T không có yêu cầu nào khác.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị M cùng trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà ngoại bà T, ông S tên là Phan Thị T2, bà T2 cho bà Nguyễn Thị C2 (chết năm 1974) di n t ch 4.452m2 ở xã P.M, huy n C, ồng Tháp. Bà C2 sử dụng và canh tác từ năm 1968 đến năm 1974 thì chết không để lại di chúc. Ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà C2 có 04 người con là ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Minh C1. Ông S canh tác từ năm 1975 cho đến nay và là người đóng thuế sử dụng đất theo quy định. Năm 1993, ông S đi đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quy n sử dụng đất di n t ch 4.452,3m2 gồm thửa 851, 904, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã P.M, huy n C, ồng Tháp. Năm 2004, ông S đi đổi giấy chứng nhận quy n sử dụng đất. Năm 2009, ông S lập thủ tục tách thửa 2645 di n t ch 1.531 m2 và tách thửa 2646 di n t ch 1.675m2 cho ông C1 vì ông C1 thờ cúng bà C2, ông S thờ cúng ông B1 nên chia đất cho ông C1; còn bà T đã được chia đất lúa ở ấp D, xã B.T, huy n T nhưng bà T không lấy đất nhưng đã lấy vàng, bà T đã ký vào tờ hợp đồng ngày 16/8/1991.

Sau năm 1997, bà T cùng ông C v cất nhà trên di n t ch đất mà ông S d định tách thửa, chuyển quy n sử dụng đất cho ông C1, ông C1 không có ý kiến nên ông S, bà M không ngăn cản. Năm 2015, bà T t ý dời nhà qua tại vị tr di n t ch đất 541m2 thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 thuộc quy n sử dụng đất của ông được cấp giấy chứng nhận, hi n trạng như bản đồ đo đạc ngày 03/8/2016, ông S không đồng ý nhưng bà T vẫn làm, hai bên phát sinh tranh chấp cho đến nay. Ông S xác định vì bà T t ý di dời nhà qua di n t ch đất ông được cấp quy n sử dụng không có s đồng ý của ông nên ông tranh chấp. Vi c ph n chia di sản thừa kế của ba m đã được giải quyết, không có tranh chấp trong vụ án này. Trên di n t ch đất này, chỉ có bà T và ông C sinh sống, các con của bà T đã có gia đình sống ở di n t ch đất khác, không tham gia vào quan h sử dụng đất nên ông S, bà M không yêu cầu đưa các con của bà T tham gia vào vụ án này.

ối với yêu cầu khởi ki n của bà T thì ông S và bà M không đồng ý; ông bà yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bà T di dời nhà và c y trồng trả ông bà di n t ch đất 541m2 thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp, ông bà không đồng ý hỗ trợ hay bồi thường gì vì ngay từ đầu ông bà không đồng ý cho bà T di dời nhà qua vị tr hi n tại; không đồng ý vi c yêu cầu hủy giấy chứng nhận quy n sử dụng đất đối với di n t ch 541m2 thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên, vì giấy chứng nhận quy n sử dụng đất ông được cấp đúng trình t pháp luật. Nếu trường hợp Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của bà T thì ông S, bà M yêu cầu bà T trả giá trị đối với di n t ch đất 541m2 đang tranh chấp trên theo giá của Hội đồng định giá đã định giá. V hi n trạng đất, c y cối có trên đất tranh chấp từ ngày thẩm định đến nay không có gì thay đổi, không phát sinh thêm, đúng như sơ đồ đo đạc của ngày 03/8/2016 của Văn phòng đăng ký quy n sử dụng đất huy n C. V định giá tài sản tranh chấp ông S, bà M thống nhất với kết quả định giá không yêu cầu định giá lại. Giấy chứng nhận quy n sử dụng đất ông S, bà M không thế chấp, cầm cố hay chuyển nhượng cho bất kỳ tổ chức, cá nh n nào. Ngoài ra, ông S, bà M không có yêu cầu nào khác.

Ông S và bà M kết hôn năm 1982; sinh con trai Nguyễn Phi H năm 1985; con gái Nguyễn Thị Ngọc B2 sinh năm 1995, ngoài ra ông bà không có người con nào khác. Năm 1997, ông S bà M và con cái chuyển v huy n T, tỉnh ồng Tháp. Nguyễn Phi H và Nguyễn Thị Ngọc B2 không tham gia vào quá trình canh tác đất và không có tranh chấp hay yêu cầu nào trong vụ án này.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn C trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh C1 trình bày:

Nguồn gốc đất là của bà ngoại bà T, ông S tên là Phan Thị T2, bà T2 cho bà Nguyễn Thị C2 (chết năm 1974) di n t ch 4.452m2 ở xã P.M, huy n C, ồng Tháp. Bà C2 sử dụng và canh tác từ năm 1968 đến năm 1974 thì chết không để lại di chúc. Ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà C2 có 04 người con là ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Minh C1. Ông S canh tác từ khi trưởng thành cho đến nay. Năm 1993, ông S đi đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quy n sử dụng đất di n t ch 4.452,3m2 gồm thửa 851, 904, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã P.M, huy n C, ồng Tháp. Ông S canh tác đất này từ năm 1977 đến năm 1993. ến năm 1993, ông C1 v canh tác làm lúa trên toàn bộ di n t ch gồm thửa 851, 904, tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp. Năm 2003, ông S đi đổi giấy chứng nhận quy n sử dụng đất. Năm 2009, ông S lập thủ tục tách thửa 2645 di n t ch 1.531 m2 và tách thửa 2646 di n t ch 1.675m2 cho ông C1 đứng tên sử dụng.

Năm 1996, ông C1 kêu bà T v cất nhà trên di n t ch đất 541m2 thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp để giữ đất. Vi c bà T v ở trên phần đất này ông S và ông C1 đồng ý. Năm 1997, bà T đào ao nuôi cá, bà T bàn với ông S và ông C1. Ông C1 và ông S đồng ý cho bà T đào ao nuôi cá. Năm 2015, bà T sửa và định hình hướng nhà như hi n nay. ối với di n t ch đất 541m2 thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên thì ông C1 không tham gia vào quan h sử dụng đất, không canh tác và cũng không có yêu cầu hay tranh chấp đối với di n t ch đất này. Ngoài ra, ông C1 không có yêu cầu nào khác.

Tại bản án d n s sơ thẩm số: 81/2018/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số: 81/2018/Q -SCBSBA ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nh n d n huy n C, tỉnh ồng Tháp đã quyết định:

Áp dụng i u 26, i u 39; i u 147, i u 157, i u 165, i u 227, i u 235 Bộ luật Tố tụng d n s ; i u 101; i u 166, i u 203 Luật đất đai; Nghị Quyết v án ph , l ph số: 326/2016/PL-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu đòi đất của ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị M đối với bà Nguyễn Thị T, Trịnh Văn C.

- Không chấp nhận yêu cầu công nhận quy n sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quy n sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T.

- Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Trịnh Văn C trả lại cho ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị M di n t ch đất 541m2, thửa 2644, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp theo sơ đồ đo đạc ngày 03/8/2016 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huy n C, cụ thể các vị tr như sau:

+ Ph a đông giáp thửa 2646 (Nối mốc 03 đến mốc 04 dài 10,98m);

+ Ph a t y giáp đất lộ đá (Nối các mốc 05 đến mốc 06 dài 11,24m);

+ Ph a nam giáp thửa 863 (Nối các mốc 04 đến mốc 05 dài 49,20m);

+ Ph a bắc giáp thửa 2643 (Nối mốc 03 đến mốc 05 dài 49,17m)

- Bà Nguyễn Thị T, Trịnh Văn C có nghĩa vụ di dời toàn bộ c y cối và nhà có trên 541m2, thửa 2644, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp để trả đất cho ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị M

(Kèm theo biên bản thẩm định ngày 03/8/2016, ngày 30/01/2018 và sơ đồ khu đất tranh chấp của ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị T ngày 03/8/2016 của Chi nhánh văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C).

- Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M được th c hi n các quy n và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất theo quy định luật đất đai.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hi u l c pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quy n chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản ti n phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản ti n hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản ti n lãi của số ti n còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2, i u 468 Bộ luật d n s năm 2015.

- V án ph :

+ Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M không phải chịu án ph d n s sơ thẩm, trả lại cho ông Nguyễn Văn S số ti n tạm ứng án ph d n s đã nộp là 1.400.000 đồng (một tri u bốn trăm ngàn đồng) theo biên lai số 03866 ngày 04/12/2017 của Chi cục thi hành án d n s huy n C.

+ Bà Nguyễn Thị T phải chịu án ph d n s sơ thẩm, nhưng thuộc trường hợp được miễn án ph nên trả lại cho bà T số ti n tạm ứng án ph d n s đã nộp là 1.400.000 đồng (một tri u bốn trăm ngàn đồng) theo biên lai số 16315 ngày 30/10/2017 của Chi cục thi hành án d n s huy n C.

- Bà Nguyễn Thị T phải chịu 2.546.800 đồng chi ph xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản để trả lại cho ông Nguyễn Văn S đã tạm ứng trước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại i u 2 Luật Thi hành án d n s thì người được thi hành án d n s , người phải thi hành án d n s , người có quy n lợi nghĩa vụ liên quan có quy n thỏa thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, t nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các i u 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n s ; thời hi u thi hành án được th c hi n theo quy định tại i u 30 Luật Thi hành án d n s .

Ngoài ra bản án còn tuyên v quy n kháng cáo, thời hạn kháng cáo, quy n yêu cầu thi hành án của các đương s theo luật định.

Ngày 05 tháng 11 năm 2018, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm đã xét xử.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi ki n và yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo v quy n và lợi ch hợp pháp của bà Nguyễn Thị T là Luật sư Lê Hữu P trình bày: nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông S, bà M, vì bà T ở, sử dụng phần đất tranh chấp trên ổn định l u dài từ năm 1996 đến nay.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo v quy n và lợi ch hợp pháp của ông Nguyễn Văn S là Luật sư Võ Thị Băng G trình bày: nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà T, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, vì đất tranh chấp do ông S đã canh tác, sử dụng ổn định và đã được cấp giấy chứng nhận hợp pháp. Vi c bà T x y d ng nhà trên di n t ch đất của ông S là không đúng theo quy định pháp luật. Do đó, buộc bà T có nghĩa vụ di dời nhà và c y trồng để giao trả lại cho ông S, bà M sử dụng di n t ch 541m2, thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp là phù hợp theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại di n Vi n kiểm sát nh n d n tỉnh ồng Tháp phát biểu ý kiến v vụ án như sau:

- V tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như các đương s đ u th c hi n đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng d n s năm 2015.

- V nội dung:

nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 81/2018/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nh n d n huy n C, tỉnh ồng Tháp.

Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương s , ý kiến phát biểu của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

V tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan h pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết và xét xử vụ án đúng thẩm quy n và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng d n s .

Các đương s có mặt tại phiên tòa. Riêng đại di n của Ủy ban nh n d n huy n C có đơn đ nghị xin vắng mặt là hoàn toàn phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại i u 228 của Bộ luật tố tụng d n s năm 2015.

V nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M chuyển trả quy n sử dụng đất cho bà T di n t ch 541m2 thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp. ồng thời, bà T yêu cầu yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quy n sử dụng đất đã cấp cho ông S thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên và công nhận quy n sử dụng đất cho bà T đối với di n t ch 541m2 trên. Ông S, bà M có yêu cầu phản tố yêu cầu bà T, ông C di dời nhà, c y trồng và tài sản khác nằm trên phạm vi đất tranh chấp để trả lại cho ông S, bà M di n t ch đất 541m2 thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp.

Phần di n t ch di n t ch đất tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị T với hộ ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M trong vụ án này đã được xem xét, thẩm định tại chỗ theo đo đạc th c tế là 541m2 (đất ở nông thôn và trồng c y l u năm), thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 (thuộc một phần của thửa cũ là thửa 851, tờ bản đồ số 05) do ông Nguyễn Văn S đứng tên chủ sử dụng đất. Vị tr , tứ cận, số đo đối với di n t ch 541m2 đang tranh chấp trên được xác định tại các mốc: 3, 4, 1, 5, 6, 2 v mốc 3 theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/01/2018, ngày 03/8/2016 của Tòa án nh n d n huy n C và theo Bản đồ tr ch đo khu đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn S với bà Nguyễn Thị T ngày 03/8/2016 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huy n C, đất tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp.

Theo yêu cầu khởi ki n và nội dung kháng cáo cũng như tại phiên tòa phúc thẩm thì bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án xét xử buộc ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M trả quy n sử dụng đất cho bà T di n t ch là 541m2 thuộc thửa số 2644, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp và bà T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quy n sử dụng đất đã cấp cho hộ ông S thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên để công nhận và cấp lại cho bà T đứng tên sử dụng, vì bà T cho rằng thửa đất số 2644 trên là do ông S cho bà T sử dụng.

Xét yêu cầu khởi ki n cũng như yêu cầu kháng cáo của bà T là không có căn cứ nên không được chấp nhận, bởi l : Trong quá trình thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm thì bà T không có tài li u, chứng cứ gì để chứng minh toàn bộ di n t ch đất 541m2 thuộc thửa đất số 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên là do ông S đã cho bà T. ồng thời, ông S cũng không thừa nhận đã cho thửa đất số 2644 trên cho bà T sử dụng, mà thửa đất số 2644 trên là của ông Nguyễn Văn S đứng tên sử dụng và ông S là người tr c tiếp canh tác, sử dụng thửa đất 2644 trên từ năm 1975 và là người đóng thuế sử dụng đất cho Nhà nước theo quy định. Vào năm 1993, ông S đi đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quy n sử dụng đất chung lần đầu đối với di n t ch 4.452,3m2 gồm thửa 851, 904, tờ bản đồ số 5 (trong đó có di n t ch 541m2 thuộc thửa số 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp), khi ông S được cấp giấy chứng nhận thì các anh, chị, em ông S (trong đó có bà T) biết nhưng không ai tranh chấp. Do đó, vi c cấp giấy cho hộ ông S đảm bảo đúng trình t , thủ tục và phù hợp theo quy định tại i u 101 Luật đất đai năm 2013. Ngày 06/9/2004, ông S được cấp đổi giấy chứng nhận quy n sử dụng đất. ến ngày 14/6/2009 ông S tách thửa đất số 851 thành 02 thửa đất số 2643, 2644. ến năm 2015, bà T t ý dời nhà của bà T qua tại vị tr di n t ch đất 541m2 thuộc thửa đất số 2644 thuộc quy n sử dụng đất của ông S được cấp giấy chứng nhận quy n sử dụng đất không được s đồng ý của ông S. Và tại phiên tòa phúc thẩm cũng như tại lời khai của bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Minh C1 (là anh chị em ruột của ông S, bà T) trình bày vào năm 2015, bà T và ông C có di dời nhà của bà T từ vị trí đất của ông C1 qua đất của ông S như hi n nay đang tranh chấp. i u đó, cho thấy thửa đất số 2644 trên là do bà T, ông C t dời nhà qua để chiếm đất của ông S là toàn đúng s thật. Do đó, buộc bà T, ông C phải có nghĩa vụ trả di n t ch 541m2 thuộc thửa đất số 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên cho ông S, bà M sử dụng là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp đúng pháp luật.

Xét yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M v vi c yêu cầu bà T, ông C di dời toàn bộ tài sản nằm trong phạm vi đất tranh chấp để trả lại cho ông S, bà M sử dụng đối với di n t ch 541m2 thuộc thửa đất số 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên là hoàn toàn có căn cứ như Hội đồng xét xử phúc thẩm đã nhận định và ph n t ch trên.

Từ những nhận định trên có đủ cơ sở để xác định di n t ch đất 541m2 thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên là của ông S đã canh tác, sử dụng ổn định và đã được cấp giấy chứng nhận quy n sử dụng đất hợp pháp. Vi c bà T, ông C cất nhà trên thửa đất số 2644 của ông S là không đúng theo quy định pháp luật. Do đó, buộc bà T, ông C có nghĩa vụ di dời nhà, c y trồng và toàn bộ tài sản khác nằm trong phạm vi đất tranh chấp để trả lại cho ông S, bà M sử dụng đối với di n t ch 541m2 thuộc thửa đất số 2644, tờ bản đồ số 5 đang tranh chấp trên là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp đúng pháp luật.

Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm thì bà T, ông C và ông S, bà M không yêu cầu gì v vi c hỗ trợ, di dời, bồi thường tài sản trên đất tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét lời phát biểu của người bảo v quy n và lợi ch hợp pháp của bà T v vi c đ nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi ki n và kháng cáo của bà T và không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông S, bà M là hoàn toàn không có căn cứ nên không được chấp nhận như Hội đồng xét xử phúc thẩm đã nhận định và ph n t ch trên.

Xét lời phát biểu của người bảo v quy n và lợi ch hợp pháp của bị đơn v vi c đ nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi ki n và kháng cáo của bà T và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông S, bà M là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận như Hội đồng xét xử phúc thẩm đã nhận định và ph n t ch trên.

Xét đ nghị của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh ồng Tháp tại phiên tòa phúc thẩm là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Từ những nhận định và ph n t ch trên, Hội đồng xét xử xét thấy không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T và giữ nguyên bản án d n s sơ thẩm số: 81/2018/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nh n d n huy n C; ồng thời không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Nguyễn Thị T, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị M như án sơ thẩm đã xét xử là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp đúng pháp luật.

V án ph : Bà Nguyễn Thị T và ông Trịnh Văn C không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu án ph d n s sơ thẩm, nhưng bà T và ông C được miễn toàn bộ ti n án ph d n s sơ thẩm và ti n án ph phúc thẩm do thuộc di n người có công với cách mạng theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

V chi ph tố tụng: Bà Nguyễn Thị T và ông Trịnh Văn C không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu toàn bộ chi ph tố tụng. Tổng số ti n chi ph xem xét, thẩm định và định giá là 2.546.800 đồng, ông Nguyễn Văn S đã tạm ứng chi xong nên bà T, ông C phải có nghĩa vụ trả lại cho ông S số ti n 2.546.800 đồng chi ph trên.

Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên chưa đúng theo quy định của pháp luật và chưa đúng v số li u, k ch thước đối với di n t ch đất tranh chấp đã giao cho ông S, bà M sử dụng nên cần phải sửa lại cách tuyên án cho đúng theo quy định của pháp luật.

Các phần khác của phần quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hi u l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 9 i u 26, i u 147, i u 148, i u 228 và khoản 1 i u 308 của Bộ luật tố tụng d n s ;

- Căn cứ vào i u 100, i u 101, i u 166 của Luật đất đai năm 2013;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và l ph Tòa án:

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.

2. Giữ nguyên bản án d n s sơ thẩm số: 81/2018/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nh n d n huy n C, tỉnh ồng tháp.

3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của bà Nguyễn Thị T v vi c tranh chấp quy n sử dụng đất với hộ ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M đối với di n t ch 541m2 thuộc thửa đất số 2644, tờ bản đồ số 5.

4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M v vi c yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Trịnh Văn C trả di n t ch 541m2 thuộc thửa đất số 2644, tờ bản đồ số 5.

5. Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Trịnh Văn C có nghĩa vụ đốn, di dời toàn bộ c y trồng, nhà và tài sản khác nằm trong phạm vi đất tranh chấp để trả lại cho ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị M sử dụng di n t ch đất 541m2 (đất ở nông thôn và trồng c y l u năm) thuộc thửa 2644, tờ bản đồ số 5 (thuộc một phần của thửa cũ là thửa 851, tờ bản đồ 05), giấy chứng nhận quy n sử dụng đất do ông Nguyễn Văn S đứng tên chủ sử dụng đất, tọa lạc tại ấp B, xã P.M, huy n C, ồng Tháp.

6. Tứ cận, vị tr , số đo của di n t ch 541m2 đang tranh chấp trên được xác định tại các mốc: 3, 4, 1, 5, 6, 2 v mốc 3. Cụ thể như sau:

+ Ph a đông giáp thửa 2646 (Nối mốc 03 đến mốc 04 ngang là 10.98m);

+ Ph a t y giáp đất lộ đá (Nối mốc 05 đến mốc 06 ngang là 11.24m);

+ Ph a nam giáp thửa 863 (Nối mốc 04 đến mốc 01 và mốc 05 dài là 49.20m + 0.81m = 50.01);

+ Ph a bắc giáp thửa 2643 (Nối mốc 03 đến mốc 02 và mốc 05 dài là 49,17m + 1.37m = 50.54m).

(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/01/2018, ngày 03/8/2016 của Tòa án nh n d n huy n C và Bản đồ tr ch đo khu đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn S với bà Nguyễn Thị T ngày 03/8/2016 (duy t ngày 04/8/2016) của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huy n C, ồng Tháp).

7. Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M được th c hi n các quy n và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất theo quy định luật đất đai.

8. V án ph :

8.1. Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M không phải chịu án ph d n s sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị M số ti n tạm ứng án ph d n s đã nộp là 1.400.000 đồng (Một tri u bốn trăm ngàn đồng) theo biên lai số 03866 ngày 04/12/2017 của Chi cục thi hành án d n s huy n C, ồng Tháp.

8.2. Bà Nguyễn Thị T, ông Trịnh Văn C không phải chịu án ph d n s sơ thẩm và án ph d n s phúc thẩm do thuộc trường hợp được miễn toàn bộ án phí. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T số ti n tạm ứng án ph d n s đã nộp là 1.400.000 đồng (Một tri u bốn trăm ngàn đồng) theo biên lai số 16315 ngày 30/10/2017 của Chi cục thi hành án d n s huy n C, ồng Tháp.

9. V chi ph tố tụng: Bà Nguyễn Thị T, ông Trịnh Văn C phải có nghĩa vụ giao trả lại cho ông Nguyễn Văn S 2.546.800 đồng (Hai tri u, năm trăm bốn mươi sáu ngàn, tám trăm đồng) ti n chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

10. Các phần khác của phần quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hi u l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

11. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại i u 2 Luật Thi hành án d n s thì người được thi hành án d n s , người phải thi hành án d n s , người có quy n lợi nghĩa vụ liên quan có quy n thỏa thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, t nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các i u 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n s ; Thời hi u thi hành án được th c hi n theo quy định tại i u 30 Luật Thi hành án d n s .

Bản án phúc thẩm có hi u l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ