- Tranh chấp gì? án hình sự — "Liên Huỳnh T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 113/2018/HS - ST ngày 19 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 92/2018/HS-PT Ngày 26 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán:
Bà Hoàng Thị Hải Hà
Bà Châu Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Vũ Phong là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Lê Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 89/2018/TLPT-HS ngày 25 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo Liên Huỳnh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 113/2018/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Liên Huỳnh T, sinh năm 1980 tại Cà Mau.
Nơi cư trú : Ấp Tân P A , xã Hòa T , thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn : 9/12; dân tô ̣c: Kinh; giớ i tinh: Nam; tôn giáo:
́ Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông Liên Văn T1 và bà Huỳnh Tuyết T2; vợ: đa ̃ ly hôn, con 02 ngườ i; tiền án: không, tiền sự: không. Bị cáo có nhân thân tốt . Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/12/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H C Viê ̣t Nam. Đi ̣a chỉ: Tầng G 8 và 10, tòa nhà phụ nữ , số 20, đườ ng Nguyễn Đ ăng G, phườ ng Thảo Đ, Quâ ̣n 2, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Trườ ng G, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Số 36/39, đườ ng Lý B, Khóm 2, Phườ ng 4, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau (vắng mă ̣t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/12/2015, Liên Huỳnh T sử dụng giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe cùng mang tên Phạm Thế H lên mạng internet đăng ký vay tiền của Công ty Tài chinh Trách nhiê ̣m hữu hạn Một thành viên H C Viê ̣t Nam (gọi tắt là
́ Công ty H C) để mua điện thoại trả góp. T giả tên H để trả lời thẩm định với nhân viên công ty. Công ty chấp nhâ ̣n cho bi ̣ cáo vay tiền và thông báo cho bi ̣ cáo đến cửa hàng Thế giớ i di đô ̣ng thuô ̣c Phườ ng 9, thành phố Cà Mau , tỉnh Cà Mau để làm thủ tu ̣c vay tiền, mua điê ̣n thoa ̣i. Do bi ̣ cáo lớ n tuổi hơn nhiều so vớ i Pha ̣m Thế H nên bi ̣ cáo nhờ ngườ i quen là Nguyễn Trườ ng G giả tên H để ký tên vào hồ sơ vay tiền. Khi ký tên Pha ̣m Thế H , G có hỏi bị cáo tại sao lại l ấy tên H thì bị cáo không giải thich mà kêu G cứ ký tên H , còn tiền trả góp hàng tháng thì bị cáo trả .
́ Số tiền vay là 4.287.000 đồng.
Bị cáo sử du ̣ng điê ̣n thoa ̣i được khoảng 05 tháng thì bị hỏng không sử dụng được nên bỏ mất. Cho đến khi bi ̣ phát hiê ̣n , bị cáo chưa trả khoản tiền vay cho Công ty H C.
Ngày 12/9/2017, Công ty H C nô ̣p ta ̣i Cơ quan Cảnh sát điều t ra – Công an thành phố Cà M 01 đoa ̣n ghi âm thẩm đi ̣nh hồ sơ giữa nhân viên Công ty vớ i khách hàng tên Phạm Thế H. Bị cáo T thừ a nhâ ̣n gio ̣ng nói trong đoa ̣n ghi âm là của bị cáo.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 113/2018/HS - ST ngày 19 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 139; Điều 42, điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999 sử a đổi bổ sung năm 2009; Các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật T ố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Tuyên bố bị cáo Liên Huỳnh T phạm tội “Lừ a đảo chiếm đoa ̣t tài sả.n”
2. Xử phạt bị cáo Liên Huỳnh T 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Liên Huỳnh T chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.
Ngày 26 tháng 6 năm 2018, bị cáo Liên Huỳnh T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ y bản án sơ thẩm về hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa, bị cáo Liên Huỳnh T thừa nhận: Tháng 12/2015, bị cáo sử dụng giấy tờ của Phạm Thế H để đăng ký mua hàng trả góp qua mạng internet với Công ty H C nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Sau khi hồ sơ vay được thẩm định, bị cáo nhờ Nguyễn Trườ ng G đến cửa hàng Thế giới di động ở Phườ ng 9, thành phố Cà Mau , tỉnh Cà Mau để làm thủ tục và lấy điện thoại mang về cho bị cáo. Ngày 09/12/2015, Nguyễn Trườ ng G đến cửa hàng Thế giới di động làm thủ tục vay thì phát hiện tên khách hàng là Pha ̣m Thế H , G có hỏi bị cáo tại sao lại lấy tên H thì bị cáo không giải thich mà kêu G cứ ký tên H, còn tiền trả góp hàng tháng
́ thì bị cáo trả . Sau khi nhận hàng mua trả góp là điện thoại Sam sung MW DEC 3 giá 5.990.000 đồng, với số tiền vay là 4.287.000 đồng. Bị cáo đã chiếm đoạt toàn bộ khoản tiền vay. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của Nguyễn Trường G, phù hợp với đoạn ghi âm thẩm định và Kết luâ ̣n giám đi ̣nh về chữ ký, chữ viết tại hồ sơ vay.
Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 113/2018/HS - ST ngày 19 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử bị cáo Liên Huỳnh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ.
. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo , ăn năn hối cải ; bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, g, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 sử a đổi bổ sung năm 2009 (nay là Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung thêm chứng cứ mới thể hiện: Bị cáo là người lao động chính trong gia đình, đang nuôi mẹ già 80 tuổi, đây là tình tiết tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân là bộ đội xuất ngũ nên không cần thiết để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về chính quyền địa phương để bị cáo tự cải tạo, sửa chửa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội. Thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước đối với những người mong muốn làm lại cuộc đời.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách là một năm.
. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu theo quy định pháp luật.
. Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 113/2018/HS - ST ngày 19 tháng 6 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 của Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Liên Huỳnh T 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 01 (một) năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày 26/9/2018.
Giao bị cáo Liên Huỳnh T cho Ủy ban nhân dân xã Hòa T, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. T hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Liên Huỳnh T phải chịu 200.000 đồng.
Án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân thành phố Cà M; - Công an thành phố Cà M; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà M; - Chi cục THADS thành phố Cà M; - UBND xã Hòa T, thành phố Cà M; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT (TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Chung Văn Kết |