vanban.org

Bản án 92/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/01/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Điều 228, Điểm a Khoản 2 Điều 478 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016; đình năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tô Thanh H - Lê Cao Thúy V"
  • Tòa quyết gì? 1 Điều 228, Điểm a Khoản 2 Điều 478 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
  • Căn cứ chính? Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 92/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 17-01-2018

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Nhung

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

Thư"ký"phiên"tòa: Ông Bùi Trường An – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh.

Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh tham"gia"phiên"

tòa: Ông Lê Tấn Đông – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2017/TLST-HNGĐ ngày 23

tháng 05 năm 2017 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

3093/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tô Thanh H, sinh năm 1974.

Địa chỉ: 861/15/13E Khu phố B đường T, phường T, Quận B, Thành phố Hồ

Chí Minh, Việt Nam.

- Bị đơn: Bà Lê Cao Thúy V, sinh năm 1984.

Địa chỉ: G1W 0A5, Canada.

(Các đương sự đều có yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 08/05/2017 và các tài liệu, chứng cứ kèm theo,

nguyên đơn là ông Tô Thanh H trình bày:

Ông và bà Lê Cao Thúy V đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn ký

ngày 14/10/2013, vào Sổ đăng ký kết hôn số 2634, quyển số 14, ngày 16/10/2013 do

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Trong thời gian chung sống, ông và bà

Lê Cao Thúy V phát sinh mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có

sự chia sẻ với nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt

được nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Cao

Thúy V.

Về con chung: Ông và bà Lê Cao Thúy V có một con chung là trẻ Tô Minh K,

sinh ngày 07/05/2014, giới tính: Nam, hiện đang sống với bà Lê Cao Thúy V tại Canada. Ông không tranh chấp quyền nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông khai ông và bà Lê Cao Thúy V không có tài

sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Đơn xin không hòa giải và li hôn vắng mặt ngày 29/10/2017, đã được Sở

Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận / hợp pháp hóa lãnh sự, số 0232515/SNV ngày 27/12/2017, bị đơn là bà Lê Cao Thúy V trình bày:

Bà và ông Tô Thanh H đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn ký ngày

14/10/2013, vào Sổ đăng ký kết hôn số 2634, quyển số 14, ngày 16/10/2013 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn, bà sống ở Canada còn ông Tô Thanh H sống ở Việt Nam nên giữa bà và ông Tô Thanh H có những bất đồng không thể hòa giải được do khoảng cách. Bà đồng ý ly hôn với ông Tô Thanh H.

Về con chung: Bà và ông Tô Thanh H có một con chung là trẻ Tô Minh K, sinh

ngày 07/05/2014, giới tính: Nam, hiện đang sống với bà tại Canada. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Tô Thanh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà khai bà và ông Tô Thanh H không có tài sản

chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là ông Tô Thanh H có Đơn xin vắng

mặt, bị đơn là bà Lê Cao Thúy V có yêu cầu xin được vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa xét

xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn là ông Tô Thanh H có Đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày

08/05/2017, yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận cho ông Tô Thanh H được ly hôn với bị đơn là bà Lê Cao Thúy V. Do bà Lê Cao Thúy V đang cư trú tại Canada, nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông Tô Thanh H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Về tố tụng:

Nguyên đơn là ông Tô Thanh H có Đơn xin vắng mặt ở phiên tòa xét xử sơ

thẩm, đồng thời bị đơn là bà Lê Cao Thúy V cũng có yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa theo Đơn xin không hòa giải và li hôn vắng mặt ngày 29/10/2017, đã được Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận / hợp pháp hóa lãnh sự, số 0232515/SNV ngày 27/12/2017, nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 207, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và Điểm a Khoản 1 Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa ông Tô Thanh H và bà Lê Cao Thúy V có quan hệ

hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và

thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Căn cứ vào các

chứng cứ mà Tòa án thu thập được từ ông Tô Thanh H và bà Lê Cao Thúy V, hai bên

thống nhất thỏa thuận thuận tình ly hôn nên có cơ sở xác định rằng mục đích của hôn

nhân giữa ông Tô Thanh H và bà Lê Cao Thúy V đã không đạt được. Do đó Tòa án

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tô Thanh H được ly hôn với bà Lê Cao Thúy V.

Về con chung: Ông Tô Thanh H và bà Lê Cao Thúy V có một con chung là trẻ

Tô Minh K, sinh ngày 07/05/2014, giới tính: Nam, hiện đang sống với bà Lê Cao Thúy

V tại Canada. Do ông Tô Thanh H không tranh chấp quyền nuôi con chung, bà Lê Cao

Thúy V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Tô Thanh

H cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án xét thấy giao con chung cho bà Lê Cao Thúy

V trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối

với ông Tô Thanh H do bà Lê Cao Thúy V không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Tô Thanh H và bà Lê Cao Thúy V đều khai

không có tài sản chung, không có nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Tô Thanh H là nguyên đơn có yêu cầu ly hôn

nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, ông Tô Thanh H

phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 4 Điều 147, Khoản

1 Điều 228, Điểm a Khoản 2 Điều 478 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia

đình năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Tô Thanh H như sau:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Tô Thanh H và bà Lê Cao Thúy V thuận tình ly

hôn. Quan hệ hôn nhân giữa ông Tô Thanh H và bà Lê Cao Thúy V chấm dứt kể từ khi

bản án có hiệu lực thi hành. Giấy chứng nhận kết hôn ký ngày 14/10/2013, vào Sổ

đăng ký kết hôn số 2634, quyển số 14, ngày 16/10/2013 do Ủy ban nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị.

2. Về con chung: Giao con chung là trẻ Tô Minh K, sinh ngày 07/05/2014, giới

tính: Nam cho bà Lê Cao Thúy V trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng

nuôi con chung đối với ông Tô Thanh H do bà Lê Cao Thúy V không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc

ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực

tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người đó.

Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, một hoặc cả hai bên có quyền yêu

cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Tô Thanh H và bà Lê Cao Thúy V đều

khai không có tài sản chung, không có nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Tô Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm

ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ông Tô Thanh H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0034246, ngày 22/05/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Tô Thanh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo bản án:

Ông Tô Thanh H vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nên ông Tô Thanh H

được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bà Lê Cao Thúy V vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm bà Lê Cao Thúy V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Cao Thúy V là ông Tô Thanh H nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cẩu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi"nhận:"

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tối cao;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND Cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND TP.HCM;

- Cục THADS TP.HCM;

- UBND TP.HCM;

- Các đương sự;

- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

Võ Thị Mỹ Hạnh

Cỡ chữ