- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 92/2018/HNGĐ-ST Ngày: 29/3/2018 V/v: xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phƣợng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phƣơng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.
Đại diện viên kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Hoàng Lƣu- Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện A mở phiên toà xét sử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2017/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2017 về việc “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2018, quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2018/QĐST – HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thúy K, sinh năm 1992
Nơi cư trú: Tổ 17, ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Lê Văn V, sinh năm 1992
Nơi cư trú: Tổ 17, ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa bà K có mặt; ông V vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, bà Phan Thị Thúy K trình bày: Hôn nhân của bà với ông Lê Văn V là do tự tìm hiểu, yêu thương, tiến tới hôn nhân vào năm 2012, sau đó sống chung tại ấp T, thị trấn L. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang ngày 06/02/2014. Từ năm 2013 thì bà với ông V phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông V không chăm lo cuộc sống gia đình. Khoảng tháng 5/2016 bà với ông V ly thân cho đến nay. Nay tình cảm không còn, nên bà yêu cầu ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà với ông V có 01 con chung tên Lê Ngọc D, sinh ngày 30/12/2014, hiện cháu D do bà nuôi dạy. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi cháu D và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ bà K cung cấp cho Tòa án gồm: Trích lục kết hôn, sổ hộ khẩu gia đình, chứng minh nhân dân và trích lục khai sinh cháu D (tất cả bản sao).
Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì ông V vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử (HĐXX) nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.
Tại biên bản ghi nhận sự vắng mặt của đương sự và không tiến hành hòa giải được thì bà K vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn, xin nuôi con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 10/01/2018, ông Lê Văn B - cha ruột ông V cung cấp: Ông V có nhận được các thông báo của Tòa án nhưng không đến được do đi làm công trình. Hôn nhân của K và V là do tự tìm hiểu, sống chung vào năm 2012. K và V mâu thuẫn cải vả nhau và không còn sống chung từ giữa năm 2016 cho đến nay. Theo ông khả năng hàn gắn của hai đứa là không thể, bởi mỗi đứa giờ đã có cuộc sống riêng. K và V có 01 con chung tên Lê Ngọc D, hiện sống chung với K, việc K nuôi con thì ông không có ý kiến gì nhưng ông chỉ muốn được tới lui thăm cháu. Tài sản chung thì ông thấy không tạo lập được gì, còn nợ chung thì ông không biết nhưng không thấy ai đến đòi.
Biên bản xác minh ngày 10/01/2018, ông Huỳnh Văn V – Trưởng ấp T, thị trấn L, cung cấp cho Tòa án ông Lê Văn V vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại ấp T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang, ông V đi làm công nhân nhưng cũng có về, hiện chưa chuyển hộ khẩu.
Tại phiên toà hôm nay: Bà K vẫn yêu cầu xin ly hôn với ông V, yêu cầu nuôi cháu D và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung xác định không có. Ông V vắng mặt lần thứ hai. Do đó, HĐXX nghĩ nên xét xử vắng mặt ông V theo Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thị Thúy K; giao cháu D cho bà K nuôi dưỡng, công nhận sự tự nguyện của bà K về việc không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung xác định không có, nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
[ 1] Về thủ tục tố tụng: Hôn nhân giữa bà Phan Thị Thúy K và ông Lê Văn V là tự tìm hiểu; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang ngày 06/02/2014, là hôn nhân hợp pháp nên yêu cầu xin ly hôn của bà K được tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Bà K với ông V tiến tới hôn nhân là do tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sống chung vào năm 2012, năm 2016 hai bên phát sinh mâu thuẫn, sau đó ly thân cho đến nay. Hôn nhân giữa bà K và ông V thực tế không thể hàn gắn bởi không còn sống chung, thời gian ly thân quá lâu, do đó việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà K là có căn cứ.
Về con chung: Xét thấy cháu Lê Ngọc D, từ trước đến nay được bà K nuôi và chăm sóc, tình cảm giữa cháu D và bà K đã thật sự gắn bó, do đó việc bà K yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với tâm sinh lý của cháu D, nên HĐXX công nhận.
Về cấp dưỡng: Tại phiên tòa, bà K không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung, nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà K xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, nên Tòa án không xem xét giải quyết, nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Bà K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
Xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Thúy K.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Thúy K được ly hôn với ông Lê Văn V.
Về con chung: Bà K được tiếp tục nuôi dạy một con chung tên Lê Ngọc D, sinh ngày 30/12/2014. Công nhận sự tự nguyện của bà K về việc không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà K cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bà Phan Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà bà K đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A theo biên lai thu số 0002646 ngày 21/11/2017 (bà K đã nộp đủ).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/3/2018) các bên có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh; - VKS huyện; - THA huyện; - UBND xã, thị trấn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Ngọc Phƣợng |