vanban.org

Bản án 92/2017/DSPT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 25/08/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn à Lê Thị Minh H. Giữ nguyên ản án dân sự sơ thẩm số 10/2017/DSST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Tuyên : Không chấp nhận toàn ộ nội dung khởi kiện của à Lê Thị Minh H về việc: Yêu cầu ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D trả lại diện tích đất 637,8m2 (Có tứ cận: Phía Đông giáp đường liên xã, cạnh dài 23,56m; Phía Tây giáp đất của ông T, ông Ng Thế A, cạnh dài 22,15m; Phía Nam giáp đất của ông T1, bà L… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lê Thị Minh H - Hồ Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn à Lê Thị Minh H. Giữ nguyên ản án dân sự sơ thẩm số 10/2017/DSST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 84/2007/NĐ-CP Quy định bổ sung về việc cấp Giấy…; Điều 123 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP Về thi hành Luật Đất đai; Điều 124 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP Về thi hành Luật Đất đai
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2017/DSPT
Ngày 25/8/2017.
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T

N NH N D N TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bằng.

- Các Thẩm phán: Ông Hoàng Kim Khánh và ông Doãn Đình Quyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thê – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Vượng - Kiểm sát viên.

Ngày 25/8/2017, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến hành t phúc thẩm công khai v án dân sự th lý số: 70/2017/TLPT ngày 14 tháng 6 năm 2017 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do ản án dân sự sơ thẩm số 10/2017/DSST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin ị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa v án ra xét phúc thẩm số: 101/2017/QĐ-PT ngày 17/7/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2017/QĐ-PT ngày 03/8/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Minh H, sinh năm 1939 – Địa chỉ: Thôn A, ã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 – Địa chỉ: Đường M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Văn ản ủy quyền ngày 27/4/2015). (có mặt).

2. Bị đơn: ông Hồ Ngọc T, sinh năm 1977 và à Trần Thị D, sinh năm 1980

– Cùng địa chỉ: Thôn A, ã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; (đều có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1967 – Địa chỉ: Thôn A, ã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; (có mặt).

3.2. Ông Võ Trung M, sinh năm 1964 – Địa chỉ: Tổ N, ấp I, ã K, thành phố R, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (vắng mặt).

3.3. Ủy an nhân dân huyện C – Địa chỉ: Khu trung tâm hành chính huyện C

– Thôn K, ã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn K – Trưởng phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện C. (vắng mặt).

4. Người làm chứng:

4.1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1972 (có mặt).

4.2. Ông Ng Anh G, sinh năm 1950 (có mặt).

4.3. Ông Ng Thế A, sinh năm 1975 (vắng mặt).

4.4. Ông Nguyễn Tri P, sinh năm 1962 (có mặt).

4.5. Ông Nguyễn Đình S, sinh năm 1946 (vắng mặt).

4.6. Bà Phan Thị H, sinh năm 1949 (có mặt).

4.7. Bà Ngô Thị H, sinh năm 1955 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn A, ã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

4.8. Ông Võ Mạnh T, sinh năm 1956 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn O, ã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

NỘI DUNG VỤ N

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị Minh H và người đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Văn T trình bày:

Năm 1980 gia đình à Lê Thị Minh H tự khai hoang đất để trồng hoa màu v i diện tích 4.925m2 tại đội 27 Nông trường cà phê P (nay là Công ty cà phê P) thuộc ã M, huyện K (nay là ã B, huyện C). Đến năm 1986 Nông trường múc phần đất khai hoang của à H đắp làm đường đi vào Nông trường, phần đất của à H tạo thành vùng trũng.

Ngày 10/10/1988 bà H làm “Đơn xin ủi bờ lô làm rẫy” đối v i phần đất như sau: “1 bờ lô chiều dài từ lô trồng mới đến cây da chiều rộng sát lô cà 85 - trục giao thông lấy đất năm 1986. Hiện nay đã hết đất sản xuất tôi xin ủi san bằng để làm rẫy lúc nào tập thể cần thì sẽ nhường lại”. Đơn có ác nhận của ông Hồ Sỹ G nguyên là Đội trưởng đội 27 ác nhận ngày 20/10/1988 nội dung: “Tập thể đơn vị nhất trí cho phép bà H sử dụng bờ lô đầu thừa đuôi thẹo để tăng gia sản xuất. Khi tập thể cần thiết sẽ lấy lại”. Sau đó à H không trồng hoa màu nữa mà trồng cây vành đai rừng và một số cây ăn trái để giữ đất.

Năm 2002, à H cho con trai là ông Nguyễn Tri P một phần diện tích đất khai hoang trên để ở (3.600m2) nhưng đến 2005 m i làm thủ t c tặng cho qua an chỉ huy đội, Nông trường cà phê P ác nhận, phần còn lại à H tiếp t c s d ng. Đến năm 2010 bà H làm đơn in cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) được Ban tự quản Thôn A, ã B đồng ý. Năm 2010 gia đình ông Hồ Ngọc T tự ý đổ đất trên một phần diện tích đất 1.325m² còn lại, à H ngăn cản nên ảy ra tranh chấp. Thông qua việc tranh chấp à H được iết ông T đã được UBND huyện K cấp GCNQSDĐ số AK 590342 ngày 23/11/2007 cho hộ ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D, diện tích đất 1.305m², th a đất số 13596, tờ ản đồ số 03, nay là Thôn A, ã M, huyện C trong đó có một phần diện tích đất của à H.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:

1. Buộc ị đơn ông T, à D và à H1 trả lại diện tích đất 637,8m2 theo kết quả đo thực tế (Có tứ cận: Phía Đông giáp đường liên ã, cạnh dài 23,56m; Phía Tây giáp đất của ông T, ông Ng Thế A, cạnh dài 22,15m; Phía Nam giáp đất của ông T1, à L, cạnh dài 22,77m; Phía Bắc giáp vườn ông Nguyễn Tri P, cạnh dài 28,28m) thuộc tờ ản đồ số 3 tại xã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

2. Hủy một phần Quyết định số 3437/QĐ-UBND ngày 23/11/2007 của UBND huyện K (nay là huyện C) và huỷ một phần giá trị giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AK590342 do UBND huyện K (nay là huyện C) cấp ngày 23/11/2007 đứng tên ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D.

* Bị đơn - Ông Hồ Ngọc T và bà Trần Thị D trình bày (bà D ủy quyền cho ông T tham gia tố tụng tại Tòa án):

Năm 1996 ông T vào sinh sống tại Thôn A, ã M, huyện C sinh sống cùng chị gái là à Hồ Thị H1 và được à H1 cho diện tích đất 1.305m² nhưng ông T nhờ à H1 quản lý giúp. Năm 2002 ông T làm nhà ở, quản lý, s d ng ổn định diện tích trên không có ai tranh chấp. Tháng 9/2007 ông T làm thủ t c kê khai in cấp GCNQSDĐ theo quy định pháp luật đối v i th a đất trên. Ngày 23/11/2007 UBND huyện K cấp GCNQSDĐ số AK 590342 cho hộ ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D, diện tích 1.305m², th a số 13596, tờ ản đồ 03, tại Thôn A, ã M, huyện C.

Năm 2009 ông T đổ đất san lấp mặt ằng trên diện tích đất được cấp GCNQSDĐ và không có ai tranh chấp. Đến năm 2010 ông T tiếp t c san lấp mặt ằng lần hai thì à H cản trở và cho rằng ông T lấn chiếm đất của à H. Ông T đã làm đơn yêu cầu hoà giải nhưng không được.

Nay bà H yêu cầu ông T, à D phải trả cho à H diện tích đất 637,8m2 nằm trong diện tích đất 1.305m² ông T được cấp và đề nghị Toà án huỷ một phần quyết định cấp đất và huỷ một phần GCNQSDĐ của gia đình ông T thì ông T không đồng ý. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối v i việc kê khai cấp GCNQSDĐ ông T đã làm đúng theo trình tự quy định. Nguồn gốc đất ông T kê khai là nhận chuyển nhượng nhưng cơ quan địa chính ghi nhầm là khai hoang hoặc công ty cấp năm 1986 và việc giấy tờ ị tẩy óa là do các cơ quan chức năng thực hiện, ông T không iết.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Hồ Thị H1 trình bày: Năm 1993 à H1 có nhận chuyển nhượng của ông Võ Trung M lô đất có diện tích hơn 2.400m2 khi chuyển nhượng chỉ giấy tờ viết tay (đã mất). Bà H1 quản lý, s d ng diện tích đất nói trên đến năm 1996 thì cho em trai là ông T diện tích khoảng hơn 1.300m2, khi cho không viết giấy tờ gì. Năm 2002 ông T đã làm nhà ở và sản uất. Đến năm 2007 ông T được UBND huyện cấp GCNQSDĐ đối v i diện tích đất trên là đúng quy định. Nay à H khởi kiện yêu cầu ông T, à D phải trả cho à H diện tích đất 637,8m2 đất nằm trong diện tích đất 1305m² ông T được cấp và đề nghị Toà án huỷ một phần GCNQSDĐ của gia đình ông T thì à H1 không đồng ý. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Ông Võ Trung M tại bản tự khai trình bày: Từ năm 1987 ông M làm công nhân Nông trường X 3. Năm 1991 ông M được Nông trường X 3 cấp 01 th a đất có diện tích khoảng 1400m2 tại Đội 7 Nông trường X 3 theo chính sách của Nhà nư c (nay là Thôn A, ã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk). Sau đó ông M có nhận chuyển nhượng của ông T1 diện tích đất khoảng 500m2 ở phía trư c. Việc chuyển nhượng được thực hiện ằng giấy tay, chưa làm thủ t c sang tên. Đến khoảng năm 1993 ông M chuyển nhượng cho à H1 diện tích khoảng 1900m2 nói trên, khi chuyển nhượng chỉ có giấy tờ viết tay, nay các giấy tờ trên đã thất lạc mất. Việc chuyển nhượng giữa ông M và bà H1 đã thực hiện xong từ lâu, không ai có ý kiến gì. Nay à H khởi kiện yêu cầu ông T, à D trả một phần diện tích đất thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Đại diện UBND huyện C trình bày:

Ngày 15/11/2007, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk an hành quyết định số 3024 và quyết định số 3025 về việc thành lập UBND lâm thời huyện C và các phòng an chuyên môn. Tuy nhiên đến ngày 25/12/2007 chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk m i ban hành quyết định số 3449 quy định chức năng nhiệm v quyền hạn các phòng an chuyên môn thuộc UBND lâm thời huyện C, là cơ sở pháp lý để UBND huyện và các phòng an chuyên môn chính thức đi vào hoạt động, àn giao hồ sơ để tiếp t c giải quyết công việc của UBND huyện K tiếp nhận trư c đây.

Tại thời điểm UBND huyện K cấp GCNQSDĐ số AK 590342 ngày 23/11/2007 cho hộ ông T thì th a đất số 13596, tờ ản đồ số 3 ã M thuộc địa gi i hành chính huyện C. Tuy nhiên v i những lý do nêu trên, việc UBND huyện K cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T là đúng thẩm quyền và đúng quy định của pháp luật, giải quyết kịp thời lợi ích của công dân.

Việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T trong hồ sơ có tẩy óa, s a chữa về diện tích; Nguồn gốc s d ng đất của UBND ã M ghi mâu thuẫn v i nội dung kê khai của người s d ng đất. Tuy nhiên theo ý kiến của Công an huyện C tại công văn số 232 ngày 04/4/2013 thì các lỗi này là do công tác quản lý chuyên môn của cán ộ địa chính, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Qua đối chiếu v i quy định của pháp luật đất đai, GCNQSDĐ cấp cho ông T năm 2007 là cấp theo hiện trạng s d ng tại thời điểm kê khai, ông T có kê khai và được UBND ã ác nhận s d ng ổn định, không tranh chấp. Việc cấp GNCQSD đất là đúng trình tự và không thuộc trường hợp phải thu hồi. Hiện nay hồ sơ lưu trữ về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T không còn đầy đủ nên UBND huyện đề nghị HĐXX căn cứ hồ sơ, tài liệu thu thập được và các tình tiết liên quan để giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người làm chứng:

- Ông Ngụ Anh G trình bày: Năm 1985 th a đất trên do Xí nghiệp liên hiệp cà phê X quản lý, sau đó giao lại cho Nông trường cà phê X 3. Cũng vào năm này ông G đang làm công nhân đội 7 của Xí nghiệp. Từ năm 1990 đến năm 2010 ông G làm cán ộ đội sản uất nên ông khẳng định à H không s d ng canh tác trên

2 th a đất. Nông trường múc đất tạo thành vùng trũng gần 5.000m . Năm 1999 ông G bà H1 thuê máy san ủi đất để s d ng đất sau đó cho ông A, ông T s d ng và được kê khai cấp GCNQSDĐ.

- Ông Nguyễn Văn T1 trình bày: Diện tích đất tranh chấp trư c kia do ông T1 chuyển nhượng cho ông M, ông M chuyển nhượng lại cho à H1 và bà H1 tặng cho ông T s d ng.

- Ông Ngụ Thế A tại bản tự khai trình bày: Trư c kia th a đất 13596, tờ ản đồ số 3 là một vùng đất trũng, không có người s d ng. Đến năm 1999 à H1 và ông G (cha của ông A) thuê máy san lấp mảnh đất trên và chia ra mỗi người s d ng một phần. Sau đó ông G cho ông A, còn à H1 cho ông T s d ng. Từ năm 1999 đến nay, ông T, à H1 trồng cà phê, tiêu trên th a đất nói trên nhưng bà H không ý kiến gì. Việc à H cho rằng th a đất trên của à H là không đúng vì th a đất à kê khai, s d ng đã cho con trai là Nguyễn Tri P. Việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông T, ông A, ông P thì không ai có ý kiến gì.

- Ông Võ Mạnh T tại bản tự khai trình bày: Lúc trư c th a đất trên là ãi đất trống được Nông trường múc đất để làm đường. Vào năm 1990 ông M chuyển đi nơi khác để lại cho à H1. Sau đó à H1 và ông G san ủi đất rồi mỗi người s d ng một phần. Bà H1 trồng cà phê sau đó cho lại ông T. Bà H không liên quan, không s d ng, không đóng góp hay canh tác trên đất.

- Ông Nguyễn Đình S trình bày: Năm 1984 đến 1987 ông S là đội phó đội 27 Xí nghiệp X. Năm 1982 à H đã khai hoang và sản uất trên mảnh đất này. Năm 1986 à H có đơn in khai hoang được đội đồng ý nhưng Nông trường không có ất kỳ quyết định giao đất cho à H. Vài năm sau Nông trường lấy đất làm đường nên tạo thành cái h c sâu. Ông S khẳng định mãnh đất tranh chấp là của à H s d ng liên t c nhưng ông không nh à H trồng những cây gì, trồng vào thời gian nào.

- Ông Nguyễn Tri P tại bản tự khai trình bày: Năm 1982 ố mẹ ông P khai hoang 5.000m2 để trồng đậu, ắp. Sau đó vùng đất này được trưng d ng để lấy đất làm đường. Phần còn lại ố mẹ ông vẫn s d ng. Năm 2005 ố mẹ ông P cho ông 3.600m2, vùng còn lại khoảng 551m2 bà H vẫn trồng ơ, muồng, điều nhưng sau đó ị ông T lấn chiếm.

- Bà Phan Thị H, bà Ngô Thị H tại phiên tòa phúc thẩm trình bày: Các à đều không iết nguồn gốc đất hiện đang tranh chấp. Tuy nhiên các à chỉ iết có thấy à H có canh tác trên đó. Hiện tại phần diện tích đất trên là h c trũng, các à không iết của ai.

Tại bản án số 10/2016/DSST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin quyết định:

1. Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật tố t ng dân sự;

Áp d ng khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005;

Áp d ng Điều 50 Luật đất đai năm 2003, Điều 123, Điều 124 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 và Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007;

Áp d ng Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

Áp d ng Điều 27 Pháp lệnh số 10 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí Tòa án;

2. Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn ộ nội dung khởi kiện của à Lê Thị Minh H về việc:

1. Yêu cầu ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D trả lại diện tích đất 637,8m2 (Có tứ cận: Phía Đông giáp đường liên ã, cạnh dài 23,56m; Phía Tây giáp đất của ông T, ông Ng Thế A, cạnh dài 22,15m; Phía Nam giáp đất của ông T1, bà L, cạnh dài 22,77m; Phía Bắc giáp vườn ông Nguyễn Tri P, cạnh dài 28,28m) thuộc tờ ản đồ số 3 tại xã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

C)Yêu cầu hủy một phần Quyết định số 3437/QĐ-UBND ngày 23/11/2007 của UBND huyện K (nay là huyện C) và yêu cầu huỷ một phần giá trị giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AK590342 do UBND huyện K (nay là huyện C cấp ngày 23/11/2007 đứng tên ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D.

* Về chi phí thẩm định, định giá, đo vẽ kỹ thuật:

Bà Lê Thị Minh H phải chịu 1.500.000 đồng tiền chi phí em t thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và 4.215.000 đồng tiền chi phí đo vẽ hiện trạng. Được khấu trừ vào số tiền à H đã nộp tạm ứng theo iên lai số 09 và số 10 cùng ngày 07/4/2016 tại Toà án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

* Về án phí:

Ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D không phải chịu án phí DSST.

Bà Lê Thị Minh H phải chịu 22.990.000 đồng án phí DSST, khấu trừ số tiền 1.250.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai thu tiền số: AA/2013/31639 ngày 24/12/2015 tại Chi c c Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Bà Lê Thị Minh H còn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 21.740.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng).

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các ên đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/4/2017, nguyên đơn à Lê Thị Minh H kháng cáo toàn ộ ản án dân sự sơ thẩm v i nội dung: Đề nghị Toà án phúc thẩm em t s a ản án dân sự sơ thẩm trên theo hư ng thu hồi lại một phần GCNQSDĐ đã cấp cho ông T, à D đã làm thủ t c nhầm lẫn và giải quyết cho à được nhận lại một phần diện tích đất và các tài sản trên đất mà ông T và à D đã lấn chiếm của à.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên toàn ộ yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo của mình. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền s d ng cho ông T à D là không đúng quy định của pháp luật. Việc ông T à D s d ng đất nhưng không đóng thuế làm thất thoát ngân sách nhà nư c. Bà H s d ng đất ổn định nên đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền s d ng đất theo quy định. Đề nghị Hội đồng t chấp nhận đơn kháng cáo của à H, s a ản án dân sự sơ thẩm số 10/2017/DS-ST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk theo hư ng chấp nhận đơn khởi kiện của à H.

Bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến của mình và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật tố t ng: Trong quá trình th lý, giải quyết v án Thẩm phán, Hội đồng t cũng như các đương sự đã tuân thủ đầy đủ và thực hiện đúng v i quy định của pháp luật.

- X t đơn kháng cáo của à Lê Thị Minh H:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của à H đảm ảo về mặt hình thức và đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định nên kháng cáo của à H đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: X t kháng cáo của à Lê Thị Minh H là không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng t áp d ng Khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên ản án số 10/2017/DS-ST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu thu thập được trong hồ sơ v án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên toà – Tòa án nhận định như sau:

[1] Về nguồn gốc s d ng đất theo như lời trình ày của à Lê Thị Minh H thì diện tích đất hiện đang tranh chấp là do à H khai hoang từ năm 1980 là khoảng 4.925m2. Sau khi khai hoang bà H s d ng, canh tác trồng hoa màu và cây lâu năm trên đất. Năm 1986 Nông trường lấy một phần đất khai hoang của bà H ủi làm đường đi vào Nông trường, phần đất này tạo thành vùng trũng không trồng được hoa màu nên à trồng ơ, chuối, muồng, cây ăn trái và một số cây trồng hàng năm khác trên đất. Năm 1988 thì à được nông trường cà phê P đồng ý cho ph p s d ng 4.925m2 diện tích khai hoang trư c đó. Việc đồng ý này thông qua Đơn in ủi ờ lô làm rẫy ngày 10/10/1988 của à H đối v i diện tích như sau: “1 bờ lô có chiều dài từ lô trồng mới đến cây da chiều rộng sát lô cà 85 – hục giao thông lấy đất năm 1986. Hiện nay đã hết đất sản xuất tôi xin ủi san bằng để làm rẫy lúc nào tập thể cần sẽ nhường lại”. Đơn có ác nhận của ông Hồ Sỹ G, nguyên là đội trưởng đội 27 ác nhận ngày 20/10/1988 nội dung: “Tập thể đơn vị nhất trí cho phép bà H sử dụng bờ lô đầu thừa đuôi thẹo để tăng gia sản xuất. Khi tập thể cần thiết sẽ lấy lại”. Như vậy, à H cho rằng nguồn gốc đất tranh chấp trên là do à khai hoang và được nông trường ác nhận và à s d ng ổn định từ đó cho đến nay. Ngoài ra, à H không có chứng cứ gì chứng minh nguồn gốc đất trên là của à. Tuy nhiên, tại iên ản ác minh đề ngày 08/11/2016 tại Công ty TNHH MTV cà phê P, ông Trần Minh T – giám đốc Công ty TNHH MTV cà phê P (trư c đây là Công ty cà phê P) cung cấp: Thời điểm năm 1988 ông Hồ Sỹ G có công tác tại an chỉ huy Đội 27 của Nông trường, không có quyền phê duyệt cho cá nhân, hộ dân nào được s d ng đất hay cấp đất. Việc ông G ký ác nhận và đơn in ủi ờ lô theo đơn của à Lê Thị Minh H là không được sự đồng ý của Công ty, công ty không iết việc này. Việc làm của ông G là không đúng v i quy định của công ty và Luật đất đai.

Như vậy căn cứ theo nguồn gốc s d ng đất thì diện tích đất tính đến thời điểm ngày 11/9/2006 (thời điểm UBND tỉnh Đắk Lắk thu hồi 857,14 ha đất tại ã Ô và ã M của Công ty cà phê P) thì diện tích đất đang tranh chấp là thuộc sự quản lý của công ty Cà phê P, không thuộc cá nhân, hộ giao đình nào. Việc à H cho rằng phần diện tích trên của à khai hoang và được Nông trường cà phê P đồng ý cho s d ng ổn định, liên t c là không có cơ sở.

[2] Về nguồn gốc đất theo lời trình ày của ông Hồ Ngọc T thì năm 1995 à Hồ Thị H1 (là chị ruột của ông T) nhận chuyển nhượng từ ông Võ Trung M, diện tích khoảng hơn 2000m2. Năm 1996 à H1 tặng cho lại ông Hồ Ngọc T một phần diện tích khoảng 1300m2, sau đó ông T không s d ng nhưng để chị gái tiếp t c canh tác trên mãnh đất đó. Năm 2001 ông T ây nhà cấp 4 để ở và s d ng ổn định từ đó cho đến nay và không có tranh chấp. Năm 2007 ông Hồ Ngọc T thực hiện việc đăng ký kê khai theo chủ trương của Nhà nư c và được cấp GCNQSDĐ số AK 590342 ngày 23/11/2007 đối v i th a đất số 13596, tờ ản đồ số 3, diện tích 1305m2.

Ngày 11/9/2006 Ủy an nhân dân tỉnh Đắk Lắk an hành quyết định số 1704/QĐ-UBND về việc thu hồi 857,14 ha đất tại ã Ô và ã M của công ty cà phê P giao cho UBND huyện K quản lý, s d ng theo quy hoạch s d ng đất, trong đó có th a đất số 13596. Sau đó thực hiện chủ trương cấp đất cho các hộ gia đình cá nhân đang s d ng ổn định tại ã M, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tại thời điểm đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất cho ông Hồ Ngọc T, à Trần Thị D, chính quyền địa phương cũng không nhận được đơn thư khiếu nại hay tranh chấp gì liên quan đến diện tích đất của ông T v i hộ gia đình, cá nhân khác. Nên chính quyền địa phương ác nhận diện tích đất ông T s d ng ổn định và không tranh chấp và đã làm thủ t c cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất cho ông T là phù hợp. Mặc khác, tại thời điểm cấp đất cho ông T, ông Nguyễn Tri P (con của à H) có đất cùng khu vực Thôn A ã M cũng được công nhận quyền s d ng đất và cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất theo quyết định 3437/QĐ-UBND ngày 23/11/2007 cũng được iết việc cấp đất cho ông T, à D. Việc ông T s d ng đất liên t c và không có tranh chấp, ông P cũng iết nhưng không có ý kiến gì.

Ngoài ra, theo lời trình ày của các hộ s d ng đất liền kề là ông Ng Anh G (nay là ông Ng Thế A) và ông Nguyễn Văn T1 thì à H không s d ng canh tác gì trên đất. Việc à H cho rằng à trồng các loại cây ăn trái như cây ơ, chuối, muồng và một số cây để lấy củi trên đất nhưng bà H không có cơ sở gì chứng minh. Việc s d ng đất của à là không thường uyên, à không cắm mốc ranh gi i v i các th a giáp ranh và không in cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất và hiện nay không có hồ sơ, tài liệu nào chứng minh à H được s d ng diện tích đất nêu trên.

Từ những phân tích, nhận định trên, đã có đủ cơ sở khẳng định à Lê Thị Minh H không có quyền s d ng đối v i diện tích đất đang tranh chấp là 637,8m2 (Có tứ cận: Phía Đông giáp đường liên ã, cạnh dài 23,56m; Phía Tây giáp đất của ông T, ông Ng Thế A, cạnh dài 22,15m; Phía Nam giáp đất của ông T1, à L, cạnh dài 22,77m; Phía Bắc giáp vườn ông Nguyễn Tri P, cạnh dài 28,28m) thuộc tờ ản đồ số 3 tại xã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Do không có quyền đối v i phần diện tích trên, nên việc Ủy an nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền s d ng đất cho ông Hồ Ngọc T không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H và việc à H yêu cầu hủy một phần Quyết định số 3437/QĐ-UBND ngày 23/11/2007 của UBND huyện K (nay là huyện C) và yêu cầu huỷ một phần giá trị giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AK590342 do UBND huyện K (nay là huyện C) cấp ngày 23/11/2007 đứng tên ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D là không có căn cứ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn ộ yêu cầu khởi kiện của à H là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng t

t thấy nội dung kháng cáo của bà Lê Thị Minh Hlà không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên ản án Dân sự sơ thẩm số 10/2017/DSST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh ĐắkLắk.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bà Lê Thị Minh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố t ng dân sự; Áp d ng khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Áp d ng Điều 50 Luật đất đai năm 2003, Điều 123, Điều 124 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 và Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007; Áp d ng Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Áp d ng Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của UBTVQH số 10/2009/UBTVQH1 ngày 27/2/2009. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH4 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và s d ng án phí, lệ phí Tòa án.

2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn à Lê Thị Minh H. Giữ nguyên ản án dân sự sơ thẩm số 10/2017/DSST ngày 12/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

3. Tuyên : Không chấp nhận toàn ộ nội dung khởi kiện của à Lê Thị Minh H về việc:

- Yêu cầu ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D trả lại diện tích đất 637,8m2 (Có tứ cận: Phía Đông giáp đường liên xã, cạnh dài 23,56m; Phía Tây giáp đất của ông T, ông Ng Thế A, cạnh dài 22,15m; Phía Nam giáp đất của ông T1, bà L, cạnh dài 22,77m; Phía Bắc giáp vườn ông Nguyễn Tri P, cạnh dài 28,28m) thuộc tờ ản đồ số 3 tại ã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

- Yêu cầu hủy một phần Quyết định số 3437/QĐ-UBND ngày 23/11/2007 của UBND huyện K (nay là huyện C) và yêu cầu huỷ một phần giá trị giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AK590342 do UBND huyện K (nay là huyện C cấp ngày 23/11/2007 đứng tên ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D.

* Về chi phí thẩm định, định giá, đo vẽ kỹ thuật:

Bà Lê Thị Minh H phải chịu 1.500.000 đồng tiền chi phí em t thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và 4.215.000 đồng tiền chi phí đo vẽ hiện trạng. Được khấu trừ vào số tiền à H đã nộp tạm ứng theo iên lai số 09 và số 10 cùng ngày 07/4/2016 tại Toà án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

* Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Hồ Ngọc T và à Trần Thị D không phải chịu án phí DSST.

Bà Lê Thị Minh H phải chịu 22.990.000 đồng án phí DSST, khấu trừ số tiền 1.250.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai thu tiền số: AA/2013/31639 ngày 24/12/2015 tại Chi c c Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Bà Lê Thị Minh H còn phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 21.740.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm bốn mươi ngàn đồng).

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp tại Chi c c thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo iên lai số AA2014/0043595 ngày 03/5/2017.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. (Ngày 25/8/2017).

Cỡ chữ