- Tranh chấp gì? án hành chính — "Bà Trần Kim B kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trường hợp bồi thường, hỗ trợ và tái địn…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Kim B.
- Căn cứ chính? Luật Đất đai; Luật khiếu nại; Điều 115 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 919/2019/HC-PT Ngày 26 tháng 12 năm 2019 V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính trường hợp bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Tô Chánh Trung
Các Thẩm phán:
Ông Lê Hoàng Tấn
Bà Trần Thị Hòa Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 468/2019/TLPT-HC ngày 12 tháng 8 năm 2019 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trường hợp bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2019/HC-ST ngày 14 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3289/2019/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Trần Kim B, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: Số 05, Đường Nguyễn Tất Thành, Phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: Ấp Hành Chính, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: Ấp Hành Chính, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
- Bà Lê Hồng T, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
- Ông Lê Hồng S, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của bà Trần Kim Ba tại phiên tòa:
Nguồn gốc phần đất mà Nhà nước giải phóng mặt bằng để nâng cấp tuyến đường Vĩnh Mỹ - Phước Long là đất giáp lộ, gia đình bà Trần Kim B đã quản lý sử dụng để làm sân từ năm 1975 cho đến thời điểm Nhà nước giải phóng mặt bằng. Trong quá trình sử dụng bà B đã nâng cấp sân lên nhiều lần để có được hiện trạng như bây giờ và không ai ngăn cản, tranh chấp. Phần đất đang tranh chấp là chợ tự phát của người dân, không phải chợ do Nhà nước thành lập nên trước mặt tiền của hộ dân nào thì hộ đó tự quản lý, nâng cấp và sử dụng.
Đến ngày 20 tháng 7 năm 2017, UBND huyện Phước Long ban hành Quyết định số 97/QĐ-UBND để thu hồi một phần đất của bà với diện tích thể hiện trong quyết định thu hồi là 20,90m2 và ra Quyết định số 1602/QĐ-UBND ngày 10/8/2017 về việc điều chỉnh giảm tiền bồi thường, hỗ trợ cho bà B với tổng số tiền là 29.519.194 đồng. Đối với phần diện tích đất trong quyết định thu hồi thì có 0,10m2 đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà B, nhưng trên thực tế khi Nhà nước giải phóng mặt bằng để nâng cấp tuyến đường thì đã giải phóng luôn phần đất phía trước của gia đình bà là 51m2 vì cho rằng đây là đất thuộc chợ Trưởng Tòa cũ do UBND xã Vĩnh Thanh quản lý.
Bà B không đồng ý về giá bồi thường và diện tích đất được bồi thường nên bà khiếu nại yêu cầu nâng giá bồi thường 6.121.000đ/m2 và bổ sung diện tích đất bị thu hồi để bồi thường cho gia đình bà với tổng diện tích là 71,9m2. Đến ngày 03/11/2017, Chủ tịch UBND huyện Phước Long ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2238/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận khiếu nại của bà về việc nâng giá đất bồi thường và bổ sung diện tích đất được bồi thường. Bà tiếp tục khiếu nại, đến ngày 19/6/2018, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 1106/QĐ-UBND với nội dung giữ nguyên Quyết định giải quyết khiếu nại số 2238/QĐ-UBND ngày 03/11/2017 của Chủ tịch UBND huyện Phước Long.
Bà B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy một phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 1106/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu để bổ sung diện tích đất bồi thường cho gia đình bà từ mí lộ hiện hữu trở vào 06m.
Theo văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu trình bày nội dung sau:
Bà Trần Kim B khiếu nại UBND các cấp với 02 nội dung: Yêu cầu được nâng giá đất bồi thường và bổ sung diện tích đất để bồi thường đúng với diện tích đất Nhà nước đã giải phóng mặt bằng.
Về yêu cầu nâng giá bồi thường thì căn cứ vào Quyết định số 25/2009/QĐ-UBND ngày 22/12/2009 của UBND tỉnh Bạc Liêu về việc ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh năm 2010 thì loại đất ở hộ bà B có đơn giá là 900.000đ/m2. Đồng thời, căn cứ vào Công văn số 310/UBND-KT ngày 02/02/2017 của UBND huyện Phước Long ban hành Quyết định điều chỉnh giảm tiền bồi thường hỗ trợ số 1602/QĐ-UBND ngày 10 tháng 8 năm 2017 là đúng quy định pháp luật.
Về yêu cầu bồi thường bổ sung diện tích đất đúng với diện tích giải phóng mặt bằng thì nguồn gốc phần đất bà B yêu cầu được bồi thường bổ sung là khu đất thuộc chợ Trưởng Tòa cũ, phần đất thuộc thửa số 49, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu được thể hiện rõ trên bản đồ số 299 được lập năm 1992, thể hiện đây là khu đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho bà B được cấp đổi ngày 31/7/2009 thì trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thể hiện rõ đất của bà B có thể hiện rõ mặt tiền tiếp giáp với thửa đất số 49. Kết quả đo đạc từ bản đồ 299 thì chiều sâu của thửa đất khu chợ là khoảng 11m tính từ mí lộ hiện hữu cạnh giáp với đất thuộc quyền sử dụng đất của các hộ. Do thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một số hộ dân thì đã cấp chồng lên một phần đất của khu chợ nên dự án đã thống nhất thu hồi và bồi thường đất cho hộ bà Trần Kim B từ ranh 06m trở vào trong. Do đó, bà B yêu cầu được bổ sung diện tích đất được thu hồi là không có cơ sở để chấp nhận.
Vì vậy, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 1106/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 với nội dung không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của bà Ba là đúng quy định pháp luật.
Theo văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu trình bày nội dung sau:
Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại số 1106/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu.
Theo nội dung của bản tự khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Hồng T và ông Lê Hồng S đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà B.
Từ nội dung vụ án trên bản án sơ thẩm số 04/2019/HC-ST ngày 14 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tuyên xử:
Căn cứ vào các Điều 30, 32, 53, 55, 60, 115, 116, 156, 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 206, Điều 348 của Luật tố tụng hành chính;
Căn cứ vào Luật khiếu nại năm 2011.
Căn cứ vào Luật đất đai năm 2013.
Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim B về việc yêu cầu hủy một phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 1106/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu với nội dung không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của bà B nâng giá đất bồi thường và bổ sung diện tích đất được bồi thường.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Trần Kim B kháng cáo cho rằng phần đất của bà bị UBND huyện Phước Long thu hồi diện tích 71,90m2. Phía UBND chỉ bồi thường 20,90m2, số còn lại diện tích 51,90m2 không bồi thường là không đúng, nên bà khiếu nại Chủ tịch UBND huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu giải quyết, bà không đồng ý bà khiếu nại đến UBND tỉnh Bạc Liêu. Ngày 19/6/2018 Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu có Quyết định số 1106/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại của bà; bà khởi kiện ra Tòa án;
Tòa án cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của bà, bà không đồng ý, yêu cầu phúc xử: Sửa án sơ thẩm xử hủy 01 phần Quyết định số 1106/QĐ-UBND như trên.
Tại phiên tòa cấp phúc thẩm hôm nay bà Trần Kim B vẫn giữ theo yêu cầu kháng cáo như trên.
Đối với Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu Tòa đã triệu tập hợp lệ 02 lần mà Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu vẫn vắng mặt nên Tòa xử vắng mặt Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu.
Tại Tòa Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị phúc xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Kim B, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của bà Trần Kim B làm trong hạn luật định, nên kháng cáo được xem là hợp lệ.
Xét về nội dung vụ án thì thấy:
Tại tòa án sơ thẩm, bà Trần Kim B rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu hủy phần Quyết định về việc không chấp nhận yêu cầu tăng giá đất bồi thường đối với Quyết định số 1106/QĐ-UBND. Bà B rút lại phần yêu cầu trên, Tòa án cấp sơ thẩm lại xử - bác yêu cầu trên của bà B là không đúng, nhưng phần này không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cần phải rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm xử.
Đối với kháng cáo của bà Trần Kim B kháng cáo yêu cầu hủy 01 phần Quyết định số 1106/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu về việc giải quyết không chấp nhận yêu cầu của bà – bồi thường bổ sung diện tích đất bị thu hồi 51,90m2 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu thì Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với yêu cầu của bà Trần Kim B yêu cầu bồi thường bổ sung diện tích đất từ mí lộ hiện hữu vào trong 6m= 51.90m2 thì thấy: Tại công văn số 18/CV-PTNMT ngày 28/02/2018 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phước Long trả lời công văn số 29/TTT-P3 ngày 06/01/2018 đối với cơ quan Thanh tra tỉnh thì thể hiện: Phần đất 11 hộ dân khiếu kiện yêu cầu bồi thường bổ sung trong đó có hộ của bà Trần Kim B, phần đất trên thuộc thửa 49, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu (theo bản đồ số 299/1992 thì chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai và do UBND xã Vĩnh Thanh quản lý theo bản đồ 299 và bản đồ số 323 thành lập năm 2009 thì thể hiện phần đất tiếp giáp với lộ xe là đất tại thửa 49, tờ bản đồ số 14 phần đất này tiếp giáp với đất của các hộ dân đã được UBND cấp quyền sử dụng đất). (Phần đất mà bà B yêu cầu bồi thường bổ sung không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện Phước Long đã cấp cho hộ bà Trần Kim B). Phía bà B cũng thừa nhận phần đất trên UBND chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà. Tại các biên bản xác minh ngày 24/5/2018 thì các ông bà như: Ông Dương Văn T, bà Bùi Thị S, ông Lê Văn C là những người dân tại địa phương xác định phần đất mà bà B yêu cầu UBND bồi thường bổ sung là phần đất thuộc chợ Trưởng Tòa được UBND xã Vĩnh Thanh tráng lớp xi măng và làm đường thoát nước, phía ông T, bà S có buôn bán trên phần đất này và đóng thuế hoa chi cho UBND xã.
Từ những căn cứ nêu trên có cơ sở xác định phần đất mà bà Trần Kim B yêu cầu UBND giải quyết bồi thường bổ sung là phần đất sân chợ Trưởng Tòa thuộc UBND xã Vĩnh Thanh quản lý, nên Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 1106/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 – không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Kim B yêu cầu UBND giải quyết bồi thường bổ sung diện tích 51,90m2 như trên là có căn cứ.
Tại phiên tòa cấp phúc thẩm hôm nay bà Trần Kim B không xuất trình được chứng cứ nào khác ngoài cấp sơ thẩm xem xét, nên không có cơ sở đề chấp nhận theo kháng cáo của bà Trần Kim B.
Quan điểm đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được ghi nhận.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Kim B.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng các Điều 30, 32, 53, 55, 60, 115, 116, 156, 158, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính;
Luật khiếu nại năm 2011; Luật đất đai năm 2013.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim B về việc yêu cầu hủy 01 phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 1106/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu với nội dung giải quyết khiếu nại không chấp nhận nâng giá bồi thường và bồi thường bổ sung diện tích đất còn thiếu chưa bồi thường đối với bà Trần Kim B.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Trần Kim B được miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/12/2019.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng, ĐTT (17b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Chánh Trung |