vanban.org

Bản án 918/2019/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 26/12/2019 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/12/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn U.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Luật khiếu nại năm 2011; Luật đất đai năm 2013. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Phạm Văn U kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc Khiếu kiện quyết định hành chính trường hợp bồi thường, hỗ trợ và tái địn…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn U.
  • Căn cứ chính? Luật Đất đai; Luật khiếu nại; Điều 115 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 918/2019/HC-PT
Ngày 26 tháng 12 năm 2019
V/v “Khiếu kiện quyết định hành
chính trường hợp bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi thu hồi đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Tô Chánh Trung

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hoàng Tấn

Bà Trần Thị Hòa Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân

cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 445/2019/TLPT-HC ngày 25 tháng 7 năm 2019 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trường hợp bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2019/HC-ST ngày 14 tháng 5 năm

2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3289/2019/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Phạm Văn U, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Ấp V, xã V1, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Địa chỉ: Số 05, Đường Nguyễn Tất Thành, Phường 1, thành phố Bạc

Liêu, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Địa chỉ: Ấp Hành Chính, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh

Bạc Liêu (vắng mặt).

- Ủy ban nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Địa chỉ: Ấp Hành Chính, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh

Bạc Liêu (vắng mặt).

- Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).

Bà Trương Thị L, sinh năm 1971; chị Phạm Trương Mỹ A, sinh năm

2001; chị Phạm Trương Mỹ A1, sinh năm 2012.

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V1, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày

của ông Phạm Văn U tại phiên tòa:

Nguồn gốc phần đất mà Nhà nước giải phóng mặt bằng để nâng cấp

tuyế đường Vĩnh Mỹ - Phước Long là đất giáp lộ, gia đình ông Phạm Văn U đã quản lý sử dụng để làm sân từ năm 1975 cho đến thời điểm Nhà nước giải phóng mặt bằng. Trong quá trình sử dụng ông U đã nâng cấp sân lên nhiều lần để có được hiện trạng như bây giờ và không ai ngăn cản, tranh chấp. Phần đất đang tranh chấp là chợ tự phát của người dân, không phải chợ do Nhà nước thành lập nên trước mặt tiền của hộ dân nào thì hộ đó tự quản lý, nâng cấp và sử dụng.

Đến ngày 20 tháng 7 năm 2017, UBND huyện Phước Long ban hành

Quyết định số 92/QĐ-UBND để thu hồi một phần đất của ông với diện tích thể hiện trong quyết định thu hồi là 13,10m2 và ra Quyết định số 1608/QĐ-UBND ngày 10/8/2017 về việc điều chỉnh giảm tiền bồi thường, hỗ trợ cho ông U với tổng số tiền là 70.268.400 đồng. Toàn bộ diện tích đất bị thu hồi đều nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông U, tuy ra quyết định thu hồi diện tích đất 13,10m2 nhưng trên thực tế khi Nhà nước giải phóng mặt bằng để nâng cấp tuyến đường thì đã giải phóng luôn phần đất phía trước của gia đình ông là 18,60m2 vì cho rằng đây là đất thuộc chợ Trưởng Tòa cũ do UBND xã Vĩnh Thanh quản lý.

Ông U không đồng ý về giá bồi thường và diện tích đất được bồi

thường nên ông khiếu nại yêu cầu nâng giá bồi thường 6.121.000đ/m2 và bổ sung diện tích đất bị thu hồi để bồi thường cho gia đình ông với tổng diện tích là 18,60m2. Đến ngày 03/11/2017, Chủ tịch UBND huyện Phước Long ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 2241/QĐ-UBND với nội dung không chấp nhận khiếu nại của ông về việc nâng giá đất bồi thường và bổ sung diện tích đất được bồi thường. Ông tiếp tục khiếu nại, đến ngày 19/6/2018, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định số 1104/QĐ-UBND với nội dung giữ nguyên Quyết định giải quyết khiếu nại số 2241/QĐ-UBND ngày 03/11/2017 của Chủ tịch UBND huyện Phước Long.

Ông U khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy một phần Quyết định

giải quyết khiếu nại số 1104/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu để bổ sung diện tích đất bồi thường cho gia đình ông từ mí lộ hiện hữu trở vào 06m.

Theo văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện,

người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu trình bày nội dung sau:

Ông Phạm Văn U khiếu nại UBND các cấp với 02 nội dung: Yêu cầu

được nâng giá đất bồi thường và bổ sung diện tích đất để bồi thường đúng với diện tích đất Nhà nước đã giải phóng mặt bằng.

Về yêu cầu nâng giá bồi thường thì căn cứ vào Quyết định số

25/2009/QĐ-UBND ngày 22/12/2009 của UBND tỉnh Bạc Liêu về việc ban hành bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh năm 2010 thì loại đất ở hộ ông U có đơn giá là 900.000đ/m2. Đồng thời, căn cứ vào Công văn số 310/UBND-KT ngày 02/02/2017 của UBND huyện Phước Long ban hành Quyết định điều chỉnh giảm tiền bồi thường hỗ trợ số 1608/QĐ-UBND ngày 10 tháng 8 năm 2017 là đúng quy định pháp luật.

Về yêu cầu bồi thường bổ sung diện tích đất đúng với diện tích giải

phóng mặt bằng thì nguồn gốc phần đất ông U yêu cầu được bồi thường bổ sung là khu đất thuộc chợ Trưởng Tòa cũ, phần đất thuộc thửa số 49, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu được thể hiện rõ trên bản đồ số 299 được lập năm 1992, thể hiện đây là khu đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông U được cấp đổi ngày 31/7/2009 thì trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thể hiện rõ đất của ông U có thể hiện rõ mặt tiền tiếp giáp với thửa đất số 49. Kết quả đo đạc từ bản đồ 299 thì chiều sâu của thửa đất khu chợ là khoảng 11m tính từ mí lộ hiện hữu cạnh giáp với đất thuộc quyền sử dụng đất của các hộ. Do thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một số hộ dân thì đã cấp chồng lên một phần đất của khu chợ nên dự án đã thống nhất thu hồi và bồi thường đất cho hộ ông Phạm Văn U từ ranh 06m trở vào trong. Do đó, ông U yêu cầu được bổ sung diện tích đất được thu hồi là không có cơ sở để chấp nhận.

Vì vậy, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu ban hành Quyết định giải quyết

khiếu nại số 1104/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 với nội dung không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông U là đúng quy định pháp luật.

Theo văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu trình bày nội dung sau:

Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu

đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại số 1104/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu.

Theo nội dung của bản tự khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan: Bà Trương Thị L; chị Phạm Trương Mỹ A; chị Phạm Trương Mỹ A1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông U.

Từ nội dung vụ án trên bản án sơ thẩm số 05/2019/HC-ST ngày 14

tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu tuyên xử:

Căn cứ vào các Điều 30, 32, 53, 55, 60, 115, 116, 156, 158, điểm a

khoản 2 Điều 193, Điều 206, Điều 348 của Luật tố tụng hành chính;

Căn cứ vào Luật khiếu nại năm 2011.

Căn cứ vào Luật đất đai năm 2013.

Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn U về việc

yêu cầu hủy một phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 1104/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu với nội dung không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông U nâng giá đất bồi thường và bổ sung diện tích đất được bồi thường.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và

quyền kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Phạm Văn U kháng cáo cho rằng phần đất

của ông bị UBND huyện Phước Long thu hồi diện tích 31.70m2. Phía UBND giải quyết chỉ bồi thường 13,10m2, số còn lại 18,60m2 không giải quyết bồi thường là không đúng, nên ông U kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, xử hủy 01 phần Quyết định số 1104/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu.

Tại phiên tòa cấp phúc thẩm hôm nay ông Phạm Văn U vẫn giữ theo

yêu cầu kháng cáo như trên.

Đối với Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu Tòa đã triệu tập hợp lệ 02 lần mà

Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu vẫn vắng mặt nên Tòa xử vắng mặt Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu.

Tại Tòa Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị phúc xử: Không chấp nhận

kháng cáo của ông Phạm Văn U, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn U làm trong hạn luật định, nên

kháng cáo được xem là hợp lệ.

Xét về nội dung vụ án thì thấy:

Tại Tòa án sơ thẩm, ông Phạm Văn U rút lại 01 phần yêu cầu, không

yêu cầu UBND phải nâng giá đất bồi thường đối với diện tích 13,10m2 mà chỉ yêu cầu xét lại Quyết định số 1104/QĐ-UBND về việc không chấp nhận theo khiếu nại của ông về việc ông yêu cầu bồi thường diện tích đất bổ sung là 18,60m2.

Việc ông U rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện, Tòa án cấp sơ thẩm xử

bác yêu cầu khởi kiện của ông U đòi nâng giá bồi thường đối với diện tích đất 13,10m2 là không đúng, vấn đề này không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét, cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm.

Ông U yêu cầu UBND giải quyết bồi thường bổ sung phần đát thu hồi

từ mí lộ hiện hữu vào trong là 06m có diện tích 18,60m2 thì thấy:

Tại Công văn số 18/CV-PTNMT ngày 28/2/2018 của Phòng tài nguyên

và Môi trường huyện Phước Long trả lời công văn số 29/TTT-P3 ngày 06/01/2018 đối với cơ quan Thanh tra tỉnh, công văn xác định: Đối với 11 hộ dân đang khiếu nại trong đó có hộ của ông Phạm Văn U thuộc thửa 49, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Thanh, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Theo bản đồ số 299/1992 thì chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai, hiện do UBND xã Vĩnh Thanh quản lý.

Theo bản đồ 299 cũng như bản đồ số 323 năm 2009 cũng thể hiện phần

đất tiếp giáp với lộ xe là thửa 49, tờ bản đồ số 14, phần đất này tiếp giáp với đất của các hộ dân đã được UBND cấp quyền sử dụng đất.

Tại biên bản xác minh ngày 28/12/2017; 24/5/2018 những người ở địa

phương như: Ông Nguyễn Văn N, ông Dương Văn T, ông Lê Văn C, ông Nguyễn Hoàng H, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn H1, ông Trần Văn T1 thì những người này xác định phần đất mà ông U yêu cầu bồi thường bổ sung 18,60m2 là đất thuộc chợ Trưởng Tòa được hình thành trước năm 1975, trước đây sân chợ không được bằng phẳng được UBND xã Vĩnh Thanh tráng lớp xi măng và làm đường thoát nước. Từ lời khai cùng những người biết sự việc như trên, cũng như dựa theo bản đồ 299 lập năm 1992, bản đồ số 323 xác lập năm 2009. UBND xác định phần đất mà ông U yêu cầu bồi thường bổ sung 18,10m2 là đất thuộc UBND xã Vĩnh Thanh quản lý, nên phía UBND giải quyết không chấp nhận theo yêu cầu bồi thường 18,60m2 bổ sung của ông Phạm Văn U như trên là có căn cứ.

Tại phiên tòa cấp phúc thẩm hôm nay ông Phạm Văn U không đưa

ra được chứng cứ nào khác ngoài cấp sơ thẩm xem xét, nên không có cơ sở để chấp nhận, nên chấp nhận theo đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên bản án sơ thẩm xử

Bởi các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn U.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng các Điều 30, 32, 55, 60, 115, 116, 156, 158, điểm a khoản 2

Điều 193 của Luật tố tụng hành chính;

Luật khiếu nại năm 2011; Luật đất đai năm 2013.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn U về việc yêu

cầu hủy 01 phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 1104/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu với nội dung giải quyết khiếu nại không chấp nhận nâng giá bồi thường và bồi thường bổ sung diện tích đất còn thiếu chưa bồi thường đối với ông Phạm Văn U.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phạm Văn U phải chịu 300.000đ

án phí hành chính phúc thẩm, ngày 17/6/2019 ông U dự nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0010155 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu; số tiền này được chuyển qua thi hành phần án phí phải nộp như trên.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày 26/12/2019.

Cỡ chữ