vanban.org

Bản án 914/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí năm 2015;

Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Minh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà T và ông H"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 914/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 7 - 2018
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quang Liêm;

Ông Võ Thành Viên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Viễn Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1371/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2017 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 179/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Minh T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Đường H, phường N, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Đường B, Phường V, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/9/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn - bà Dương Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Nguyễn H tự nguyện kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha, mẹ chồng từ năm 2006 đến năm 2009, sau đó từ năm 2010 đến năm 2015 vợ chồng chung sống tại nhà thuê, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo lời trình bày của bà T thì quá trình chung sống cả hai luôn bất đồng quan điểm, ông H không chăm lo cuộc sống cho gia đình, vợ chồng thường xuyên gây gổ với nhau. Ông, bà đã ly thân và không còn chung sống với nhau từ năm 2015 đến nay. Do đó bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không có tiếng nói chung và không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung

1/ Nguyễn H Tuấn A, sinh ngày 01/6/2004;

2/ Nguyễn H Y, sinh ngày 09/10/2009.

Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Hoàng Y cho đến khi trẻ Hoàng Y đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Bà đồng ý giao trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn A cho ông H chăm sóc, nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn ông Nguyễn H đã được Tòa án niêm yết, tống đạt hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng:

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Minh T ly hôn ông Nguyễn H.

- Về con chung: Có 02 con chung

1/ Nguyễn Hoàng Tuấn A, sinh ngày 01/6/2004;

2/ Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/10/2009.

Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn H Yến cho đến khi trẻ Hoàng Y đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Bà đồng ý giao trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn Acho ông H chăm sóc, nuôi dưỡng và bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

Bà Dương Minh T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn H, do ông H cư trú tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ cho bị đơn như: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập lấy lời khai, cung cấp chứng cứ, các thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông H vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

2. Về nội dung:

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 112, quyển số 01 ngày 23/8/2006 của Ủy ban nhân dân phường N, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Minh T và ông Nguyễn H là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử nhận thấy trước khi kết hôn bà T và ông H đã có thời gian tìm hiểu, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống, giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do cả hai luôn bất đồng quan điểm, ông H không chăm lo cuộc sống cho gia đình, vợ chồng thường xuyên gây gổ với nhau. Tại phiên tòa bà Thư khẳng định tình cảm vợ chồng khó hòa hợp nên không thể sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Qua kết quả xác minh tại Hội liên hiệp Phụ nữ Phường V, quận G thì không ghi nhận được mâu thuẫn. Tòa án đã triệu tập ông H tham gia phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà T và ông H hàn gắn đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng ông H đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà T.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Dương Minh T.

Về con chung: Có 02 con chung

1/ Nguyễn Hoàng Tuấn A, sinh ngày 01/6/2004;

2/ Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/10/2009.

Xét lời trình bày của bà T yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Hoàng Y và trẻ Hoàng Y cũng có nguyện vọng ở với mẹ, theo bà T trình bày từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau thì trẻ Hoàng Y đều cùng sống với bà. Đồng thời bà T cũng đồng ý giao trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn A cho ông H chăm sóc, nuôi dưỡng và trẻ Tuấn A cũng có nguyện vọng ở với ông H. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao quyền trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Hoàng Y cho bà T và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Giao quyền trực tiếp nuôi trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn A cho ông H và bà T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà T phải chịu 300.000 đồng.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của Viện kiểm sát có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 271, Khoản 1, Khoản 3 Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điều 26 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Luật phí và lệ phí năm 2015;

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Minh T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Minh T ly hôn ông Nguyễn H.

Về con chung: Có 02 con chung

1/ Nguyễn Hoàng Tuấn A, sinh ngày 01/6/2004;

2/ Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/10/2009.

Giao bà Dương Minh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/10/2009 cho đến khi trẻ Hoàng Y đủ 18 tuổi và bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Giao ông Nguyễn H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Nguyễn Hoàng Tuấn A, sinh ngày 01/6/2004 cho đến khi trẻ Tuấn A đủ 18 tuổi và bà T không cấp dưỡng nuôi con.

Quyền và nghĩa vụ của ông H và bà T đối với con chưa thành niên được pháp luật bảo đảm, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của trẻ, việc trực tiếp nuôi con và đóng góp cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng bà Dương Minh T phải chịu được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0027654 ngày 13/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.

3/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4/ Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ