vanban.org

Bản án 912/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T về việc yêu cầu ly hôn với ông Cao Thành Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Cao Thành Đ. Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2015, quyển số 01/2015 đăng ký ngày 11/4/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T về việc yêu cầu ly hôn với ông Cao Thành Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

Ộ G

XÃ Ộ

Ủ G Ĩ V T M

Độc lập - Tự do - ạnh phúc T

M Bản án số: 912/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 12-10-2023

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

ƯỚ Ộ G

XÃ Ộ

Ủ G Ĩ V T M TÒA ÁN NHÂN DÂN

, T

M

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Kim Chọn

2. Bà Nguyễn Ngọc Thanh Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phước – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Mỹ Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 227/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 342/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 445/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà guyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1989

Địa chỉ: đường Đ, ấp H, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông ao Thành Đ, sinh năm: 1987

Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Cao Thành Đ vắng mặt không lý do).

Ộ

G VỤ :

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 02 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Bà và ông Cao Thành Đ bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2015 do hai bên tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 11/4/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, không xảy ra mâu thuẫn. Đến tháng 02 năm 2018 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chồng bà thường xuyên tụ tập bạn bè đi nhậu, không quan tâm chăm sóc con, không thông cảm cho công việc của vợ. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Cao Thành Đ.

- Về con chung: Có 01 con chung tên là Cao Bảo L, sinh ngày: 10/7/2016. Hiện con chung đang được bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng trẻ Cao Bảo L; bà không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Ngoài ra bà T không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Cao Thành Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án với đề nghị Hội đồng xét xử:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Cao Thành Đ.

Về con chung: Giao trẻ Cao Bảo L, sinh ngày 10/7/2016 cho bà T trực tiếp chăm sóc. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn được chấp nhận.

Ậ ĐỊ

Ủ T

:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Cao Thành Đ, đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ kết quả xác minh do Công an xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thì bị đơn ông Cao Thành Đ có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Cao Thành Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông Đ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Bị đơn ông Cao Thành Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không gửi văn bản ghi ý kiến của ông Đ đối với yêu cầu của nguyên đơn, không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn nên ông Đ đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào đơn xin ly hôn lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2015, quyển số 01/2015 đăng ký ngày 11/4/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thì Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Cao Thành Đ là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh T: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T yêu cầu ly hôn với ông Cao Thành Đ do trong thời gian chung sống vợ chồng bà phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân là do ông Đ thường xuyên tụ tập ăn nhậu, không quan tâm đến vợ con, không có sự thông cảm với công việc của vợ, hai bên đã sống ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.

[6] Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

[7] Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[8] Mặc dù tại Công văn số 2179/UBND ngày 14/6/2023 của Ủy ban nhân dân xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời không nắm rõ tình trạng hôn nhân của bà T và ông Đ. Nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Đ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ ông Đ không có thiện chí để Tòa án tiến hành hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ, bỏ mặc hôn nhân cho bà T tự định đoạt. Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc nhưng theo lời khai của bà T thì vợ chồng chung sống nhưng không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau đồng thời hai bên cũng đã ly thân trong thời gian dài do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng của bà T và ông Đ đã không còn, cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không còn ý nghĩa. Từ những cơ sở, Hội đồng xét xử nhận thấy bà T yêu cầu ly hôn với ông Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về con chung: Bà T xác định bà và ông Đ có 01 con chung tên là Cao Bảo L, sinh ngày: 10/7/2016. Khi ly hôn, bà yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Long; bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

[10] Tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

[11] Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 11/7/2023, trẻ Cao Bảo L thể hiện ý kiến nếu ba mẹ ly hôn thì trẻ Long mong muốn sống cùng mẹ. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về vấn đề con chung cho nên ông Đ đã tự từ bỏ các quyền về nuôi dưỡng con chung, quyền chứng minh điều kiện, khả năng chăm sóc con chung nên Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết vấn đề con chung theo yêu cầu của bà T. Theo lời khai của bà T và công văn trả lời xác minh của địa phương thì hiện tại trẻ Cao Bảo L đang sống cùng bà T do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao trẻ Cao Bảo L cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho trẻ; nếu sau này các đương sự có tranh chấp về con chung sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

[12] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc bà không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con; nếu sau này các đương sự có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

[13] Về tài sản chung: Bà T xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

[14] Về nợ chung: Bà T xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

[15] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

Q ẾT ĐỊ :

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Điều 91, khoản 4 Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 8, 9, 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T về việc yêu cầu ly hôn với ông Cao Thành Đ.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Cao Thành Đ.

Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2015, quyển số 01/2015 đăng ký ngày 11/4/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Cao Thành Đ có 01 (một) con chung tên là Cao Bảo L, sinh ngày: 10/7/2016.

Giao trẻ Cao Bảo L cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Cao Thành Đ cho đến khi bà Nguyễn Thị Thanh T có yêu cầu.

Ông Cao Thành Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không Đ cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

1.4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0042771 ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Cao Thành Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ