- Tranh chấp gì? "Vũ Văn Đ TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TßA ¸N nh©n d©n THÀNH PHỐ SƠN LA tØnh S¬n la | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 91/2020/HS-ST Ngµy: 21-7-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN THÀNH PHỐ SƠN LA- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Hương
Các hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Pản; ông Vũ Duy Khương;
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Anh Tú, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Như Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 89/2020/HS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/QĐXX ngày 11/7/2020 đối với bị cáo:
Vũ Văn Đ, (tên gọi khác: không); Sinh ngày 15 tháng 3 năm 1971 tại huyện X, tỉnh N; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã Xuân Thượng, huyện X, tỉnh N; Tạm trú: bản Giảng Lắc, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hoá: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng phái, đoàn thể: không; Con ông Vũ Ngọc D; Con bà Trần Thị P (đã chết); Bị cáo có vợ Lương Thị C, có 01 con; Tiền án: không; Tiền sự: Có 01 tiền sự ngày 23/4/2020 bị Công an phường Q xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi Trộm cắp tài sản; Về nhân thân: bị cáo có 03 tiền án đều đã được xóa án tích, cụ thể là:
- Năm 2000 bị TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Năm 2001, bị TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Năm 2004 bị TAND quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Hoàng Văn Phớ, trú tại tổ 14, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Cà Thị Hoa, trú tại bản Giảng Lắc, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, có mặt.
2. Anh Tòng Văn Cương, trú tại tổ 3, phường Chiềng An, thành phố Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/4/2020, Vũ Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sapphire màu xanh trắng, biển kiểm soát 26K3-1899 (xe mượn của chị Cà Thị Hoa, trú tại bản Giảng Lắc, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La) đi từ tổ 14, phường Q, thành phố Sơn La đến khu vực chợ 7/11 thuộc tổ 8, phường Q để mua đồ. Đ nhìn thấy trên vỉa hè trước cửa nhà số 260 của ông Hoàng Văn Phớ có để 04 chân giàn giáo và 03 thanh giằng bằng kim loại, quan sát xung quanh thấy không có người, Đ nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, Đ điều khiển xe mô tô lại gần rồi dùng tay nhấc 04 chân giàn giáo và 03 thanh giằng bằng kim loại đặt lên trước giá để đồ trước yên xe rồi điều khiển xe lên xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu thì gặp anh Tòng Văn Cương trú tại tổ 3, phường Chiềng An, thành phố Sơn La, Đ bán số tài sản trên cho anh Cương được 500.000,đ (Năm trăm ngàn đồng), khi bán Đông nói với Cương là tài sản của Đ không sử dụng nên mang bán. Đ đã tiêu hết số tiền trên.
Ngày 25/4/2020, ông Hoàng Văn Phớ có Đơn trình báo tới Công an phường Quyết Thắng, cùng ngày Vũ Văn Đ được triệu tập đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Sơn La. Tại đây, Vũ Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ lời khai của Vũ Văn Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Sơn La tiến hành thu giữ vật chứng gồm 04 chân giàn giáo và 03 thanh giằng bằng kim loại (do Tòng Văn Cương giao nộp), ngoài ra còn tạm giữ của Vũ Văn Đ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sapphire màu xanh trắng, biển kiểm soát 26K3-1899.
Ngày 26/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã ra Quyết định yêu cầu định giá tài sản số đối 04 chân giàn giáo và 03 thanh giằng bằng kim loại.
Ngày 26/4/2020, Hội đồng định giá tài sản thành phố Sơn La, kết luận: 04 chân giàn giáo cao 1,62m, rộng 1,26m có giá tại thời điểm xác định là 560.000,đ (năm trăm sáu mươi ngàn đồng); 02 thanh giằng bằng kim loại hình hộp dài 2m, rộng 0,03m có giá tại thời điểm xác định là 60.000,đ (sáu mươi ngàn đồng); 01 thanh giằng bằng kim loại hình hộp dài 1,8m, rộng 0,02m có giá tại thời điểm xác định là 20.000,đ (hai mươi ngàn đồng).Tổng giá trị tài sản là 640.000,đ (sáu trăm bốn mươi ngàn đồng).
Ngày 06/5/2020 ông Hoàng Văn Phớ có đơn xin lại tài sản. Ngày 08/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hoàng Văn Phớ quản lý và sử dụng.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Sapphire màu xanh trắng, biển kiểm soát 26K3-1899, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Cà Thị Hoa, trú tại bản Giảng Lắc, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La (chị Hoa chung sống như vợ chồng với Vũ Văn Đ), Vũ Văn Đ tự ý lấy xe của chị Hoa đi chợ và thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe mô tô này đang tạm giữ tại kho vật chứng.
Về dân sự: Bị hại và người liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Đối với anh Tòng Văn Cương là người mua tài sản của Vũ Văn Đ, Cương không biết là tài sản do Đ trộm cắp mà có.
Tại bản Cáo trạng số 125/KSĐT ngày 23 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/4/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị trả chị Cà Thị Hoa 01 xe mô tô nhãn hiệu Sapphire màu xanh trắng, biển kiểm soát 26K3-1899 đã qua sử dụng do không liên quan trong vụ án.
Chấp nhận người bị hại anh Hoàng Văn Phớ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Chấp nhận người có quyền lợi liên quan chị Cà Thị Hoa, anh Tòng Văn Cương không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Đối với anh Tòng Văn Cương là người mua tài sản của Vũ Văn Đ, Cương không biết là tài sản do Đ trộm cắp mà có, nên không xem xét xử lý đối với Tòng Văn Cương.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Ý kiến của bị cáo Vũ Văn Đ nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào Nghị án, bị cáo có ý kiến xin được hưởng mức án thấp nhất trong khung hình phạt, để nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, là người làm ăn lương thiện trong xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn la, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Ngày 25/4/2020, Vũ Văn Đ đã thực hiện hành vi lén lút, bí mật để chiếm đọat 04 chân giàn giáo và 03 thanh giằng bằng kim loại của ông Hoàng Văn Phớ mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài.
Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp có trị giá là 640.000 đồng (sáu trăm bốn mươi ngàn đồng). Tuy nhiên, trước đó 02 ngày là ngày 23/4/2020, Vũ Văn Đ bị Công an phường Q, thành phố Sơn La xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi Trộm cắp tài sản.
Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội tại phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
1." Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
…………………………………………………………………………………………….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”.
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo với trị giá tài sản bị chiếm đoạt là không lớn, mục đích chiếm đoạt tài sản của bị cáo là đem bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Cần áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự để lên mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo Vũ Văn Đ có nhân thân xấu, không có tiền án nhưng đã 03 (ba) lần bị Tòa án xét xử, đều đã được xóa án tích cùng về tội “Trộm cắp tài sản”. Cách thời điểm phạm tội 02 (hai) ngày bị cáo Vũ Văn Đ vừa bị Công an xử phạt hành chính là phạt tiền 1.500.000,đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không rút kinh nghiệm. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, cần áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự để xem xét và quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị, bị cáo không có tài sản riêng.
Về vấn đề bồi thường thiệt hại: Chấp nhận người bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản. Chấp nhận người bị hại và người liên quan trong vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Về vật chứng vụ án: Đối với vật chứng bị cáo dùng để tham gia vào việc thực hiện hành vi phạm tội là 01 xe mô tô nhãn hiệu Sapphire màu xanh trắng, biển kiểm soát 26K3-1899 đã qua sử dụng, là do bị cáo tự ý lấy xe của chị Cà Thị Hoa để đi chợ và thực hiện hành vi phạm tội, chị Hoa không biết, do vậy không liên quan trong vụ án, chị Hoa có Đơn xin lại tài sản, xét cần trả xe cho chủ sử dụng hợp pháp là chị Cà Thị Hoa, là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo Vũ Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 27/4/2020.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn Đ.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tuyên trả chị Cà Thị Hoa, trú tại bản Giảng Lắc, phường Q, thành phố Sơn La 01 xe mô tô nhãn hiệu Sapphire màu xanh trắng, biển kiểm soát 26K3-1899, số khung 20271000441, số máy 0012441, vỏ xe bị xước nhiều vết, đã qua sử dụng cũ do không liên quan trong vụ án.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 7 năm 2020 giữa Công an thành phố và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
Chấp nhận người bị hại đã được nhận lại toàn bộ tài sản. Chấp nhận người bị hại và người liên quan trong vụ án không yêu cầu bị cáo Vũ Văn Đ bồi thường.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện kiểm sát TP (2);
- CA thành phố;
(Đã ký và đóng dấu)
- Bị cáo; Bị hại; NLQ;
- THADS thành phố;
- Sở Tư pháp;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Hương
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Viện kiểm sát TP (2); - CA thành phố; - Bị cáo; Bị hại; NLQ; - THADS thành phố; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Hương |